- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản". - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày: 22-02-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Vũ Xuân Quảng.
Bà: Chu Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên toà: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác không), sinh ngày 10/5/1976 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn P, xã Ch, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân B (Đã chết) và bà Dương Thị N; Vợ Phạm Thị Th (đã ly hôn), con: Không; tiền án: 04 (Ngày 28/7/2011, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 26/2011/HS-ST); Ngày 07/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 07/2016/HS-ST); Ngày 29/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 30 tháng tù về tội “Đánh bạc” tổng hợp hình phạt với bản án số 07/2016/HS-ST ngày 07/12/2016, Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 45 tháng tù (Bản án số: 52/2017/HS-ST)); Ngày 18/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 07/2021/HS-ST); tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/9/2005, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 15/2005/HSST); Ngày 14/12/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 42 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số: 66/2005/HSST), tổng hợp hình phạt bản án số: 15/2005/HSST ngày 08/9/2005 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Đôn 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo Đôn phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 57 tháng tù giam; Bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Xuân Diệu - Trợ giúp viên Pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Bị hại: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1973. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1975. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Dương Thị N, sinh năm 1956. Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn P, xã Ch, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
* Người làm chứng:
- Anh Nông Đức Th, sinh năm 1997. Vắng mặt.
- Anh Dương Văn B, sinh năm 1995. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi chiều ngày 02/10/2022, bị cáo Nguyễn Văn Đ điều khiển xe nhãn hiệu Cub biển kiểm soát 20AA-036.81 của bà Dương Thị N (là mẹ đẻ của bị cáo) đi từ nhà đến thị trấn Ch, huyện B. Khi đi đến cổng trung tâm y tế huyện B thuộc tiểu khu k, thị trấn Ch, huyện B thì bị cáo Đ gặp Nguyễn Văn V, V rủ bị cáo Đ về nhà chơi, đến khoảng 20 giờ, sau khi ăn cơm xong, bị cáo Đ định về nhà thì V nói cho đi nhờ xe đến xã Ch để sáng hôm sau V đi làm thuê. Trên đường đi, V nói với bị cáo Đ là không có tiền và rủ bị cáo Đ cùng đi trộm gà, nếu trộm được thì bán để lấy tiền tiêu, bị cáo Đ đồng ý. Sau đó, bị cáo Đ và V dừng xe tại đoạn đường gần nhà văn hóa thôn N, xã Đ ngồi chơi chờ thấy muộn thì trộm gà. Khoảng 00 giờ ngày 03/10/2022, bị cáo Đ chờ ở xe mô tô, V đi về phía nhà bà Hoàng Thị T thấy có chuồng gà nên đã vào chuồng lấy được 02 con. V đi ra đưa cho bị cáo Đ 01 con gà, bị cáo Đ đem giấu ở bụi cây, còn V cầm 01 con gà giấu dưới chân cột điện gần đó. Sau khi giấu gà xong, V tiếp tục đi vào chỗ cũ trộm lần thứ hai, lần này bị cáo Đ đi theo sau V. V đi trước vào chuồng gà lấy được 01 con gà mái rồi đưa cho bị cáo Đ cầm. Bị cáo Đ ôm con gà đi ra đường quốc lộ, còn V tiếp tục quay vào chuồng gà. Khi bị cáo Đ đi ra đến ngoài đường thì bị người dân phát hiện còn V thì bỏ chạy. Sau đó, người dân đã trình báo công an xã Đ. Sáng ngày 03/10/2022, bị cáo Đ và V chỉ nơi cất giấu 02 con gà, Công an xã đã lập biên bản thu giữ. Tổng số gà bị cáo Đ và V trộm cắp được là 03 con, có trọng lượng là 07 kg. Ngoài ra, còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda cub 50 của bị cáo Đ.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐG ngày 23/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: Ba con gà mái có tổng trọng lượng 07 kg, thời điểm định giá ngày 03/10/2022 giá trị của tài sản là 700.000 đồng.
Với hành vi trên, bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSBB ngày 16/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
+ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Quá trình giải quyết vụ án xác định được bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc vào gia đình không có việc làm nên không có thu nhập gì ổn định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị xử lý như sau:
+ Đối với 03 con gà mái, lông vàng, tổng cân nặng 07 kg đã trả lại cho bị hại Hoàng Thị T nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA CUB50, màu xanh, BKS 20AA-036.81 xe cũ, đã qua sử dụng, đây là tài sản của bà Dương Thị N (mẹ đẻ của bị cáo Đ), ngày 02/10/2022 bị cáo Đôn đã tự ý mang đi, sau đó thì sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng bà N không biết nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bà N.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa nhất trí với tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ba Bể, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn V (có đơn xin xét xử vắng mặt), người làm chứng vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường; biên bản định giá tài sản và Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Bể, lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý, bảo vệ tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, cụ thể: Khoảng 00 giờ ngày 03/10/2022, tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Văn V đã có hành vi trộm cắp 03 con gà tổng trọng lượng là 07 kg có tổng giá trị là 700.000 đồng của bà Hoàng Thị T. Tuy giá trị của tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo Nguyễn Văn Đ đã có 04 tiền án, trong đó có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy, hành vi lần này của bị cáo Đ đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Mục đích bị cáo trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể đã căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cần xử lý bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tiền án, tiền sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân xấu: Ngày 08/9/2005, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 15/2005/HSST); Ngày 14/12/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 42 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số: 66/2005/HSST), tổng hợp hình phạt bản án số: 15/2005/HSST ngày 08/9/2005 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Đ 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 57 tháng tù giam.
Bị cáo có 04 tiền án: (Ngày 28/7/2011, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 26/2011/HS-ST); Ngày 07/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 07/2016/HS-ST); Ngày 29/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 30 tháng tù về tội “Đánh bạc” tổng hợp hình phạt với bản án số 07/2016/HS-ST ngày 07/12/2016, Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 45 tháng tù (Bản án số: 52/2017/HS-ST)); Ngày 18/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 07/2021/HS-ST);
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" về hành vi phạm tội của mình; bị cáo trộm cắp tài sản có giá trị không lớn do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”. Bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Xuân B được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của địa phương, hành vi của bị cáo khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Song xét thấy bị cáo thuộc hộ cận nghèo, là đối tượng nghiện chất ma túy, không có tài sản gì, hiện đang sống phụ thuộc vào gia đình, không có việc làm để tạo ra nguồn thu nhập. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
+ Đối với 03 con gà mái, lông vàng, tổng cân nặng 07 kg đã trả lại cho bị hại Hoàng Thị T nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA CUB50, màu xanh, BKS 20AA-036.81 xe cũ, đã qua sử dụng, đây là tài sản của bà Dương Thị N (mẹ đẻ của bị cáo Đ), ngày 02/10/2022 bị cáo Đ đã tự ý mang đi, sau đó thì sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng bà N không biết nên Hội đồng xét xử trả lại cho bà N.
Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Văn V là người trực tiếp cùng với bị cáo Nguyễn Văn Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, giá trị tài sản trộm cắp dưới mức định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản V chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, hành vi trộm cắp tài sản của V không cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, đây là hành vi vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra Công an huyện B đã chuyển hồ sơ vi phạm đến cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Dương Thị N là chủ sở hữu xe mô tô Biển kiểm soát 20AA-036.81, bị cáo Đ đã lấy chiếc xe này để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, bà N không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với bà N.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về vật chứng:
Trả lại cho bà Dương Thị N (Địa chỉ: Thôn P, xã Ch, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA CUB 50 màu xanh, BKS 20AA-036.81. Xe cũ, đã qua sử dụng, xe không thu hồi được giấy tờ đăng ký.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/01/2023 giữa Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn Đ.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Dương Thị N báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn V vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện Ba Bể; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Bị hại; - Người có QL,NVLQ; - Chi cục THADS huyện Ba Bể; - Công an huyện Ba Bể; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Anh Tuấn |