- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Thị O yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn Th"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị Oanh.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG g Bản án số: 05/2023/HNGĐST Ngày 09-3-2023 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T H, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Trúc Phƣơng
2. Bà Nguyễn Thị Việt Tím
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T H, tỉnh Kiên Giang.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát Nhân dân huyện T H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Đỉnh.
Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện T H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2022/TLST–HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST–HNGĐ, ngày 02 tháng 2 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 2 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị O – sinh năm 1987.
Địa chỉ: Khu phố Đồn Trại, phường Q Th, TP. S S, tỉnh Thanh Hóa.
(Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Trần Văn Th – sinh năm 1984.
Địa chỉ: ấp Kinh 2B, xã T A, huyện T H, tỉnh Kiên Giang.
(Vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Vũ Thị O trình bày:
Chị và anh Trần Văn Th chung sống với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T A, huyện T H, tỉnh Kiên Giang ngày 7/7/2010. Vợ chồng có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Trước khi chung sống, vợ chồng có tìm hiểu nhau trước khoảng 1 năm mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.
Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Th rượu chè, cờ bạc, không lo làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, không thể tự giải quyết. Nay chị O xét thấy tình cảm vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng tôi đã ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay.
Về con chung: chị O xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Hoàng V, sinh ngày 20/12/2010. Cháu V đã có giấy khai sinh và hiện đang sống chung với mẹ.
Về tài sản chung: chị O xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: chị O xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay chị O yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: chị O yêu cầu được ly hôn với anh Th.
Về quan hệ con chung: chị O xin được quyền nuôi dưỡng cháu Trần Thị Hoàng V - sinh ngày 20/12/2010, Chị O không yêu cầu anh Trần Văn Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Trần Văn Th được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên không có lời khai
* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
+ Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt không lý do nên không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị O.
+ Về quan hệ con chung: Đề nghị tiếp tục giao cháu Trần Thị Hoàng V - sinh ngày 20/12/2010 cho chị Vũ Thị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Trần Văn Th có quyền đến thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, không ai được cản trở.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị O xác nhận không có không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị miễn xét.
+ Về án phí: Chị Vũ Thị O phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị O được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T H.
Bị đơn anh Trần Văn Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh Th vắng mặt không có lý do, ngoài ra tại phiên tòa chị O có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt anh Trần Văn Th và chị Vũ Thị O.
Xét yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của chị Vũ Thị O, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Vũ Thị O và anh Trần Văn Th chung sống với nhau được Uỷ ban nhân dân xã T A, huyện T H, tỉnh Kiên Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển số I/2020, ngày 07/07/2010 đúng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị O: Trong quá trình vợ chồng anh chị chung sống thì thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị O là do anh Th rượu chè, cờ bạc, không lo làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, không thể tự giải quyết. Nay chị O xét thấy tình cảm vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được đến cuối năm 2021 vợ chồng ly thân cho đến nay. Nay chị O vẫn kiên quyết muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ.
Xét thấy: Chị O, anh Th chung sống với nhau bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021 do anh Th không quan tâm vợ con mà chỉ lo rượu chè, cờ bạc cả hai đã tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn chung sống lại với nhau nhưng không thành, mặt khác anh Th cho đã được Tòa án tống đạt các giấy triệu tập để hòa giải đoàn tụ nhưng anh Th vẫn vắng mặt không lý do, từ đó cho thấy vợ chồng chị O, anh Th đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian khá dài; ngoài ra, chị O và anh Th đã ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị O và anh Th đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị O yêu cầu được ly hôn với anh Th là có cơ sở chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Xét yêu cầu được nuôi cháu Trần Thị Hoàng V – sinh năm 20/12/2010 của chị Vũ Thị O.
Xét thấy, theo biên bản tiếp xúc, ghi nhận nguyện vọng của cháu Trần Thị Hoàng V – sinh năm 20/12/2010 thì nguyện vọng của cháu V muốn được ở với mẹ là chị O, mặt khác hiện nay cháu V vẫn đang được chị O nuôi dưỡng và chị O vẫn đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu. Ngoài ra cháu V là con gái và còn nhỏ cần có sự quan tâm và chăm sóc của người mẹ, việc sống chung với mẹ sẽ tốt hơn cho sự phát triển về mọi mặt của cháu. Do đó, yêu cầu của chị Vũ Thị O là có cơ sở chấp nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị O không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vũ Thị O xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Từ những nhận định trên, căn cứ vào Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, nuôi con của chị Vũ Thị O.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Vũ Thị O phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 175, Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị Oanh.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị O được ly hôn với anh Trần Văn Th.
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Thị Hoàng V– sinh ngày 20/12/2010 cho chị Vũ Thị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trần Văn Th được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Vũ Thị O phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002072, ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T H, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn anh Trần Văn Th có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
| Nơi nhận: - VKSND huyện T H; - Chi cục THADS huyện T H; - TAND tỉnh Kiên Giang; - UBND xã T A; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Đạo |