- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy H - Phạm Trương Nhật P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy H về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” đối với bị đơn ông Phạm Trương Nhật P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐST Ngày: 13/01/2023 “V/v ly hôn và tranh chấp con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Biểu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Minh Ngọc
Ông Nguyễn Văn Thư
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kiều Hoanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 318/2022/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 05/12/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm: 1998; trú tại: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Phạm Trương Nhật P, sinh năm: 1998 trú tại: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thùy L, sinh năm: 2000; trú tại: Khối phố Đ, phường T, Tp. T, tỉnh Quảng Nam (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Phạm Trương Nhật P tự nguyện tìm hiểu và đến với nhau thành vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam vào năm 2020 tại số 68/2020.
Trong quá trình chung sống vợ chồng bà H và ông Pthường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu vợ chồng không còn tình cảm với nhau; bà H và ông P đã tự ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Bà H nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc; mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Phạm Trương Nhật P.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H và ông P có 01 con chung tên Phạm Nhật Ph, sinh ngày 12/02/2021. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu Ph cho bà H nuôi dưỡng; không yêu cầu Tòa án giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Trương Nhật P đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tài liệu, chứng cứ và hoà giải và đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Riêng đối với bị đơn ông Phạm Trương Nhật P vi phạm pháp luật tố tụng dân sự; về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Phạm Trương Nhật P. Về con chung: Giao con chung cho bà H nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung và mượn nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thúy H có đơn yêu cầu ly hôn với ông Phạm Trương Nhật P, theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn và tại kết quả xác minh của Công an xã Tam Hiệp thì ông Phạm Trương Nhật P trú tại thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Phạm Trương Nhật P tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam vào ngày 08 tháng 10 năm 2020. Vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông P là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống do tính cách không hòa hợp nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do cả hai bất đồng quan điểm sống không thể giải quyết được, vợ chồng không quan tâm đến nhau; bà H, ông P đã tự ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Nay, bà H xin ly hôn với ông P vì mục đích của hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn được. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Phạm Trương Nhật P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung:
- Về con chung: Bà H và ông P có con chung tên Phạm Nhật Ph, sinh ngày 12/02/2021; bà H yêu cầu giao con chung Phạm Nhật Ph, sinh ngày 12/02/2021 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay cháu Ph chưa đủ 36 tháng tuổi, cháu Ph đang ở với bà H, bà H có công việc và thu nhập ổn định. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và căn cứ theo quy định của pháp luật nên xét giao con chung Phạm Nhật Ph, sinh ngày 12/02/2021 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét
Về án phí hôn nhân – đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy H về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” đối với bị đơn ông Phạm Trương Nhật P.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn, chấm dứt hôn nhân với ông Phạm Trương Nhật P.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Phạm Nhật Ph, sinh ngày 12/02/2021 cho bà Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. ông Phạm Trương Nhật P không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Phạm Trương Nhật P được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà bà H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011378 ngày 26/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện; - Chi cục THADS huyện; -TAND tỉnh Quảng Nam - Các đương sự - lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Biểu |