- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị T-Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tá cho chị Tá được ly hôn anh Trần Văn Thành.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày:02-02-2023 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Bá Luyến
2. Bà Dương Thị Thắm
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa: không
Ngày 02 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 259/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2022/QĐXX-ST, ngày 22 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tá - Sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn Yên Ninh, xã Nga Yên, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.(vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ Bị đơn: Anh Trần Văn Thành - Sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn Hưng Đạo, xã Nga Thủy, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 31/10/2022 và bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị Tá trình bày: chị và anh Trần Văn Thành kết hôn vào ngày 25/7/2014, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Nga Yên. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng nhau nhưng luôn bất hòa. Nguyên nhân do không có con chung, quan điểm sống trái ngược, không có tiếng nói chung. Từ tháng 3/2022, vợ chồng sống ly thân, không ai còn quan tâm đến nhau. Nay chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết để ly hôn anh Thành theo quy định. Về con: vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản: chị không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trần Văn Thành, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Nhưng anh Thành cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh Thành vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Mặc dù anh Thành đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Tá vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Thành được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Thành, chị Tá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị Tá và anh Trần Văn Thành kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống cùng nhau đến tháng 3/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị Tá trình bày do vợ chồng chung sống không có con chung, tính tình không hòa hợp dẫn đến tình cảm vợ chồng không thể duy trì được. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2022 đến nay. Chị Tá và anh Thành không còn sự quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục duy trì, chị Tá đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Thành theo quy định.Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Tá là hoàn toàn chính đáng. Bởi lẽ, các bên đã sống ly thân, tình cảm không thể hàn gắn được, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Tá, cho chị Tá ly hôn anh Thành là phù hợp quy định.
Về con và tài sản: Chị Tá không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Lê Thị Tá phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tá cho chị Tá được ly hôn anh Trần Văn Thành.
2. Về án phí: Chị Lê Thị Tá phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0015128 ngày 31/10/2022 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị Tá đã nộp đủ án phí DSST.
3. Quyền kháng cáo: Chị Tá, anh Thành có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nga Sơn; - Các đương sự; - Phòng GĐ- KT Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - UBND xã Nga Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. Hội thẩm nhân dân Dƣơng Thị Thắm Phạm Bá Luyến | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huệ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Huệ |