vanban.org

Bản án 05/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Vũ Hồng C.

Về con chung: Giao cháu Vũ Diệu A, sinh ngày 20/7/2020 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị Pg. Chị P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Lê Thị P và bị đơn Vũ Hồng C"
  • Tòa quyết gì? Xử cho ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Vũ Hồng C.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HNGĐ - ST
Ngày 21-3-2023
V/v tranh chấp về ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trường Dũng.

2. Ông Nguyễn Duy Vĩnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Thúy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Sen - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2022/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị P, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Hồng C, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị P trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Hồng C trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 10/02/2020 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận với nhau được khoảng 07 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C không có ý thức chăm lo cho gia đình mà thường xuyên gây sự xúc phạm chị, ngoài ra vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến cuộc sống vợ chồng căng thẳng nặng nề. Đến tháng 10/2020 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa sinh sống, anh chị li thân nhau từ đó đến nay không còn quan tâm đến tình cảm, cuộc sống của nhau nữa. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Hồng C.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Vũ Hồng C, đồng thời nhiều lần triệu tập anh C đến trụ sở Tòa án để giải quyết về việc chị P xin ly hôn anh, nhưng anh C đều vắng mặt. Tuy nhiên, anh C có gửi cho Tòa án qua dịch vụ bưu chính văn bản trình bày ý kiến và đề nghị xét xử vắng mặt, cụ thể anh C xác định đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng về việc chị Lê Thị P xin ly hôn anh và nhận được giấy triệu tập của Tòa án, song do anh bận đi làm ăn nên anh không thể có mặt để giải quyết vụ án, anh đề nghị Tòa án giải quyết việc chị P xin ly hôn anh theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị P và anh C thống nhất trình bày anh chị có một con chung là Vũ Diệu A, sinh ngày 20/7/2020, hiện nay đang ở với chị P. Quan điểm của anh chị đều thống nhất khi ly hôn sẽ giao cháu A cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, chị P không yêu cầu anh C phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Về con riêng: Chị P xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp, công nợ, đất nông nghiệp: Chị P, anh C đều xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị P: Xử cho ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Vũ Hồng C. Về con chung: Giao cháu Vũ Diệu A, sinh ngày 20/7/2020 cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi tự lập được. anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị P đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Lê Thị P và bị đơn là anh Vũ Hồng C đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị P và anh Vũ Hồng C là hợp pháp, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 10/02/2020 tại UBND xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận chỉ được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, ngoài ra còn do anh C mải chơi không quan tâm đến vợ con mà hay chửi bới xúc phạm chị P dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, căng thẳng. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết xin ly hôn anh C; còn anh C cũng xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn là thực tế và đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn của anh chị theo quy định của pháp luật. Theo xác minh tại địa phương và người thân của anh C thì mâu thuẫn vợ chồng chị P, anh C xảy ra là thực tế, từ cuối năm 2020 đến nay anh chị đã li thân nhau, không còn quan tâm đến cuộc sống, tình cảm của nhau nữa. Như vậy chứng tỏ hôn nhân giữa chị P và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, xử cho chị P được ly hôn anh C là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị P và anh C có một con chung là Vũ Diệu A, sinh ngày 20/7/2020. Xét thấy hiện nay cháu A chưa đủ 36 tháng tuổi, từ khi anh chị ly thân nhau đến nay cháu đều ở cùng với chị P và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, quan điểm của anh chị đều thống nhất để chị P được nuôi dưỡng con chung, vì vậy cần giao cho chị P được quyền nuôi dưỡng cháu A, anh C không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị P là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con riêng: Chị P và anh C đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung; tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Chị P và anh C xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Xử cho ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Vũ Hồng C.

2. Về con chung: Giao cháu Vũ Diệu A, sinh ngày 20/7/2020 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị Pg.

Chị P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Án phí: Chị Lê Thị P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000219 ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. (Chị P đã thi hành xong phần án phí ly hôn sơ thẩm).

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ