- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Luyến - Hong Kyung Soo"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 151 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Hội Thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm
Bà Lương Thị Diệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Tân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 02/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 về việc “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2023, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1976. Hộ khẩu thường trú: Tổ 2, khu phố 2, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (có mặt).
- Bị đơn: Ông Hong Kyung S (tên chữ Hán: Hong Kyung S1), sinh ngày 08/01/1973; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Hàn Quốc. Nơi cư trú: Ojeong-gunae-dong, Bucheon-si, Gyeonggi-do, Korea (vắng mặt).
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông Hong Kyung S tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 26/3/2009 tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc và đã thực hiện việc ghi chú kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước số 18, quyển số 01, ngày 19/3/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, văn hoá khác biệt, ông Hong Kyung S không chăm lo làm ăn, không có thu nhập xây dựng kinh tế gia đình, một mình bà phải chăm lo kinh tế cho cả gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, không hoà hợp. Vì vậy, bà L đã trở về Việt Nam sinh sống, làm việc và vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2012 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Nay nhận thấy không còn tình cảm với ông Hong Kyung S, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hong Kyung S.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hong Kyung S (Hong Kyung S1):
Quá trình thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện các thủ tục uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật đến cơ quan có thẩm để tống đạt cho ông Hong Kyung S các văn bản tố tụng và thu thập ý kiến trình bày của bị đơn ông Hong Kyung S. Tại Công văn số 2101/BTP-PLQT ngày 29/7/2022 và Công văn số 287/ BTP-PLQT ngày 17/02/2023 của Bộ Tư pháp thông báo về kết quả uỷ thác tư pháp thể hiện cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc đã thực hiện việc uỷ thác tư pháp tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án cho ông Hong Kyung S vào các ngày 09, 10,13/6/2022 và các ngày 12, 13, 14/12/2022 nhưng không thực hiện được vì địa chỉ nhận khoá cửa, không có ai ở nhà.
Theo yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L và để có căn cứ giải quyết vụ án theo quy định, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã thực hiện thủ tục đăng tin thông báo về việc thụ lý giải quyết vụ án đối với bị đơn ông Hong Kyung S trên Công thông tin điện tử của Toà án nhân dân tối cao, Trang thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước, thông báo trên kênh dành cho người nước ngoài của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV5) ba lần trong ba ngày liên tiếp 21, 22 và 23/3/2023 nhưng đến nay Toà án vẫn không nhận được tài liệu, chứng cứ hay văn bản nêu ý kiến của ông Hong Kyung S liên quan đến yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc L.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã được thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L, xử cho bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Hong Kyung S (Hong Kyung S1). Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước nhận định như sau:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ tổ 2, khu phố 2, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước, Việt Nam khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hong Kyung S, quốc tịch: Hàn Quốc, nơi cư trú: Ojeong-gunae-dong, Bucheon-si, Gyeonggi-do, Korea nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước được quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm b khoản 1 Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Hong Kyung S đã được Toà án thực hiện các thủ tục uỷ thác tư pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 474 của Bộ luật Tố tụng dân sự 02 lần nhưng không có kết quả vì địa chỉ nhận khoá cửa, không có ai ở nhà. Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L cung cấp địa chỉ mới của bị đơn ông Hong Kyung S, tuy nhiên bà L không còn biết địa chỉ nào khác của bị đơn ngoài địa chỉ đã cung cấp cho Toà án và xác định ông Hong Kyung S không có người thân thích nào ở tại Việt Nam nên không thể cung cấp được địa chỉ mới của ông Hong Kyung S cho Toà án. Vì vậy, theo yêu cầu của bà L, Toà án đã thực hiện thủ tục đăng tin thông báo cho bị đơn ông Hong Kyung S về việc thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L với bị đơn ông Hong Kyung S trên Hệ Phát thanh đối ngoại Quốc gia, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV5) 03 lần trong 03 ngày liên tiếp là các ngày 21, 22, 23/3/2023 và đăng tin thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Toà án nhân dân tối cao, Trang thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước vào ngày 28/3/2023 nhưng bị đơn ông Hong Kyung S vắng mặt tại phiên toà.
Vì vậy, căn cứ vào các điều 227, 228 và khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Hong Kyung S.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L và bị đơn ông Hong Kyung S tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 26/3/2009 tại Cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc và đã thực hiện việc ghi chú kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước số 18, quyển số 01, ngày 19/3/2009, là hôn nhân hoàn toàn hợp pháp theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, bà L sang Hàn Quốc sinh sống cùng ông Hong Kyung S, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, sự khác biệt về văn hoá, ông Hong Kyung S không chăm lo làm ăn, không có thu nhập xây dựng kinh tế gia đình, một mình bà phải chăm lo kinh tế cho cả gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, không hoà hợp. Vì vậy, bà L đã trở về Việt Nam sinh sống, làm việc và vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2012 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt.
Xét thấy, hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, hai bên đã không sống chung với nhau từ tháng 3/2012 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hong Kyung S là có cơ sở nên được chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Hong Kyung S (Hong Kyung S1).
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên toà là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí và chi phí tố tụng:
Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đây là vụ án ly hôn theo yêu cầu của một bên do nguyên đơn khởi kiện nên nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Chi phí uỷ thác tư pháp: Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 400.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí đã nộp.
Các chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm b khoản 1 Điều 470, khoản 6 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Các điều 151, 152, 153 và 154 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L.
Xử cho bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Hong Kyung S (Hong Kyung S1).
2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí và các chi phí tố tụng:
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019786 ngày 24/3/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước.
- Chi phí uỷ thác tư pháp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp hai lần với tổng số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào tổng số tiền tạm ứng chi phí 400.000 đồng đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019788 ngày 28/3/2022 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019835 ngày 17/8/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước.
- Chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí dịch thuật và 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí đăng tin thông báo về việc thụ lý giải quyết vụ án trên Hệ Phát thanh đối ngoại Quốc gia, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV5); được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí đã nộp và bà L đã thực hiện xong.
Do bà Nguyễn Thị Ngọc L chưa nộp tạm ứng chi phí đăng tin thông báo đối với Bản án sơ thẩm trên Hệ Phát thanh đối ngoại Quốc gia, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV5) nên bà L phải tiếp tục chịu số tiền này theo quy định (Nộp vào tài khoản của Ban Đối ngoại - Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV5) theo thông báo của Toà án).
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn ông Hong Kyung S (Hong Kyung S1) vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - Đương sự; - Bộ Tư pháp; - Cục THADS tỉnh Bình Phước; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - Cổng thông tin điện tử TANDTC; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Thị Quý Chi |