- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn H - L"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17 tháng 01 năm 2023 V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-----------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà :
Bà Phan Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân :
Bà Đào Phương Mai
Ông Lê Hổ Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Lê – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại: Trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 330/2022/TLST-HNGĐ ngày 05/10/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 113/2022/HPT ngày 28/12/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Vũ Mạnh H, sinh năm 1965
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966
Cùng ĐKHKTT và ở tại: Số 43 phố Y, phường H, quận H, Thành phố H.
(Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, Bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/9/2022 và các lời khai, biên bản hòa giải tại Tòa án nguyên đơn ông Vũ Mạnh H trình bày về yêu cầu khởi kiện như sau:
Ông H và bà L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kí kết hôn ngày 28/4/1998 tại UBND phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống chúng hai ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, không đồng quan điểm sống, nhiều lần đánh cãi chửi nhau. Ông H và bà L đã sống ly thân từ cuối năm 2019 đến nay, không còn quan hệ về tình cảm. Hiện tại ông H đang sinh sống tại: Số 11C N, phường G, quận L, Thành phố H. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hoà giải mâu thuẫn để đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Ông bà có hai con chung là anh Vũ Tuấn A, sinh ngày: 27/08/1987 và chị Vũ Lan A, sinh ngày: 25/06/1999. Cả hai con chung đều đã trưởng thành, phát triển bình thường nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Về tài sản, nhà ở, đất chung: Ông H trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Ông H trình bày ông bà không vay vợ chung, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài những yêu cầu trên ông H không đề nghị Tòa án giải quyết thêm vấn đề nào khác.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 02/11/2022, biên bản hòa giải tại Tòa án, bị đơn: bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà L xác nhận lời khai về thời gian và điều kiện kết hôn như ông H trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn không có vấn đề gì, toàn do ông H gây sự, từ hai năm trước ông H đã ra cửa hàng tại: Số 37 Đường Thành ngủ, không ngủ tại nhà. Bà L và ông H đã ly thân từ tháng 01/2021 đến nay. Bà không đồng ý ly hôn với ông H, bà muốn giữ gìn gia đình và vẫn còn tình cảm với ông H.
Về con chung: Ông bà có hai con chung là anh Vũ Tuấn A, sinh ngày: 27/08/1987 và chị Vũ Lan A, sinh ngày: 25/06/1999. Cả hai đều đã trưởng thành, phát triển bình thường nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Do bà không ly hôn nên không có ý kiến gì về tài sản chung.
Về vay nợ chung: Bà L trình bày ông bà không cho ai vay và cũng không vay nợ ai.
Qua trao đổi với ông Nguyễn Mạnh H - tổ trưởng tổ dân phố cho biết: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1966, hiện đang cư trú tại số 43 phố Y, phường H, quận H, H thuộc địa bàn do ông phụ trách. Theo ông được biết, ông Vũ Mạnh H và bà Nguyễn Thị L đã sống ly thân. Việc ông H và bà L có mâu thuẫn gì ông không nắm được. Về con chung: Ông H và bà L có 02 con chung là Vũ Tuấn A, sinh năm: 1987 và Vũ Lan A, sinh năm: 1999. Về tài sản chung và công nợ chung của ông H và bà L, ông không nắm được. Việc ông H có đơn xin ly hôn với bà L là việc riêng của ông bà, tổ dân phố không có ý kiến gì. Ngoài ra ông Nguyễn Mạnh H không cung cấp gì thêm.
Tại biên bản về kiểm tra giao nộp, công khai chứng cứ ngày 07/11/2022: Các đương sự không bổ sung thêm tài liệu chứng cứ gì khác, không yêu cầu gửi tài liệu chứng cứ cho nhau, không có yêu cầu Tòa án cho sao chụp tài liệu chứng cứ. Các đương sự không yêu cầu bổ sung thêm người tham gia tố tụng; nhất trí đề nghị Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý và giải quyết vụ án. Không có yêu cầu phản tố trong vụ án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn: Ông Vũ Mạnh H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn bà Nguyễn Thị L.
Về con chung: Ông bà có hai con chung là anh Vũ Tuấn A, sinh ngày: 27/08/1987 và chị Vũ Lan A, sinh ngày: 25/06/1999. Cả hai đều đã trưởng thành, phát triển bình thường nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
-Về tài sản chung, nhà ở, đất chung: Ông H trình bày, tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
-Về công nợ chung: Ông H trình bày ông bà không nợ ai, không ai nợ anh chị, không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến:Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Cụ thể: Toà án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền; Thực hiện đúng các thủ tục tố tụng; Việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử; thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm, về điều khiển phiên toà; Đối với đương sự đã thực hiện đúng các quy định, các quyền trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của khởi kiện về việc ly của ông Vũ Mạnh H với bà Nguyễn Thị L.
-Về con chung: Ông bà trình bày có hai con chung đã trưởng thành, phát triển khỏe mạnh, đề nghị không xem xét giải quyết;
-Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung: Đề nghị không xem xét giải quyết;
- Về án phí: Ông H phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ ý kiến đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ông Vũ Mạnh H có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn đối với bà Nguyễn Thị L, do đó, đây là vụ án tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là bà Nguyễn Thị L hiện cư trú tại: Số 43 phố Y, phường H, quận H, Thành phố H, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, bà L không có yêu cầu phản tố, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung vụ án:
Về Quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Mạnh H và bà Nguyễn Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn 28/04/1998 tại UBND phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, hai bên nảy sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, nhiều lần đánh cãi chửi nhau. Ông H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải mâu thuẫn để đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông H được ly hôn với bà L để ổn định cuộc sống. Về phía bà L không đồng ý ly hôn ông H vì lý do bà vẫn còn tình cảm, muốn gìn giữ gia đình. Bà L trình bày ông H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nhưng không xuất trình chứng cứ. Ông H và bà L đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, ông H đã ra ở riêng, hai bên không có biện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng. Do vậy viÖc ông H yêu cầu được ly hôn với bà L là có căn cứ, phù hợp thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần được chấp nhận.
Về con chung: Ông H, bà L có 02 con chung là anh Vũ Tuấn A, sinh ngày: 27/08/1987 và chị Vũ Lan A, sinh ngày: 25/06/1999. Ông bà trình bày cả hai con chung đều đã trưởng thành, phát triển bình thường nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản, nhà ở và đất chung: Ông H và bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về công nợ: Ông H và bà L trình bày không vay vợ chung, không cho ai vay nợ nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Ông H phải nộp án phí Hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 21, 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Xử :
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn ly hôn của ông Vũ Mạnh H. Ông Vũ Mạnh H được ly hôn bà Nguyễn Thị L.
2/ Về con chung: Ông H và bà L có 02 con chung là anh Vũ Tuấn A, sinh ngày: 27/08/1987 và chị Vũ Lan A, sinh ngày: 25/06/1999. Ông H, bà L trình bày cả hai con chung đều đã trưởng thành, phát triển bình thường nên Tòa án không xét.
3/ Về tài sản, nhà ở, đất chung: Ông H và bà L trình bày không yêu cầu Tòa án gải quyết, nên Tòa án không xét.
Về vay nợ chung: Ông H và bà L trình bày không vay vợ chung, không cho ai vay nợ nên Tòa án không xét.
4/ Về án phí: Ông Vũ Mạnh H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: AA/2020/0051879 ngày 04/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.
5/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ( Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ( Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Q.Hoàn Kiếm; - TAND TP Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội - Chi cục Thi hành án dân sự Q. Hoàn Kiếm; - Lưu HS, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lan Hương |