- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/01/2023 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Kim Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hương Ly.
2. Bà Dương Thị Hạnh.
Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện BĐ sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham
gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2022/TLST - HNGĐ ngày 21/10/2022 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị NĐ – Sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm QP, xã BG, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt – Có đơn
xin xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: Anh Lý Văn BĐ – Sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xóm QP, xã BG, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt lần 2
không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai nguyên đơn
chị Nguyễn Thị NĐ trình bày:
Chị khởi kiện anh Lý Văn BĐ – Địa chỉ: Xóm QP, xã BG, huyện V, tỉnh
Thái Nguyên, lý do xin ly hôn.
Chị và anh BĐ kết hôn với nhau năm 2008, có được tìm hiểu và đăng ký kết
hôn tại UBND xã HO, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Lý Trung F1 – Sinh
ngày 07/08/2013. Về tài sản chung: Anh chị có 01 nhà xây cấp 4 diện tích khoảng 70m2 làm năm 2015, xây dựng trên đất của ông bà ngoại cho mượn, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh BĐ không có tài sản chung, không vay ai và cho
ai vay.
Về nguyên nhân xin ly hôn: Sau khi cưới vợ chồng về sống chung với nhà
chồng tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, sau đó ra ở riêng và làm nhà trên đất của bố mẹ vợ tại xóm QP, xã BG, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Ban đầu vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Vài năm gần đây vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, anh BĐ không chịu làm ăn, không chăm lo cuộc sống gia đình, không hỗ trợ tiền nuôi con, bản thân chị đã làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án xong rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, tuy nhiên anh BĐ không sửa chữa mặc dù được chị và gia đình khuyên bảo. Nay chị tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh BĐ.
Về con chung: Chị có nguyện vọng được nuôi con chung sau khi ly hôn,
nếu được nuôi con chị không yêu cầu anh BĐ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết vì không có nợ chung,
không vay ai và cho ai vay.
* Bị đơn anh Lý Văn BĐ. Sau khi Toà án thụ lý, Toà án đã tiến hành triệu
tập, thông báo hợp lệ nhiều lần để anh BĐ đến Toà án làm các thủ tục tố tụng theo quy định nhưng anh BĐ trốn tránh không đến.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị
đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành đúng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, cụ thể:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị NĐ, yêu cầu Tòa án giải
quyết việc ly hôn với anh Lý Văn BĐ.
- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Nguyễn Thị NĐ được ly hôn anh Lý Văn
BĐ.
- Về con chung: Giao cháu Lý Trung F1 – Sinh ngày 07/08/2013 cho chị
Nguyễn Thị NĐ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh BĐ vì chị NĐ không yêu cầu. Chị NĐ và anh BĐ có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị NĐ phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình, về việc
ly hôn giữa chị Nguyễn Thị NĐ và anh Lý Văn BĐ.
Về tư cách chủ thể: Chị Nguyễn Thị NĐ khởi kiện anh Lý Văn BĐ nên
chị Nguyễn Thị NĐ là nguyên đơn, anh Lý Văn BĐ là bị đơn trong vụ án.
Về yêu cầu xin ly hôn của chị NĐ: Chị NĐ và anh BĐ kết hôn năm 2008,
có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã HO, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn nên hôn nhân là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Lý Trung F1 – Sinh ngày 07/08/2013.
Về nguyên nhân ly hôn: Theo chị NĐ vài năm gần đây vợ chồng thường
xuyên mâu thuẫn, anh BĐ không chịu làm ăn, không chăm lo cuộc sống gia đình, không hỗ trợ tiền nuôi con, bản thân chị đã làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án xong rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, tuy nhiên anh BĐ không sửa chữa mặc dù được chị và gia đình khuyên bảo.
Theo biên bản xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp ly hôn của Tòa
án tại địa phương xác định vợ chồng anh BĐ, chị NĐ quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn.
Xét cuộc hôn nhân giữa anh BĐ và chị NĐ đã lâm vào tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị NĐ với anh BĐ.
Về con chung: Anh BĐ và chị NĐ có 01 con chung là cháu Lý Trung F1
– Sinh ngày 07/08/2013. Chị NĐ có nguyện vọng trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, còn anh BĐ không hợp tác để Tòa án làm các thủ tục tố tụng nên không xác định được nguyện vọng của anh BĐ.
Ý kiến nguyện vọng của cháu Lý Trung F1 mong muốn ở với mẹ sau khi bố
mẹ ly hôn. Tử những căn cứ này, cần giao cháu F1 cho chị NĐ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý của cháu.
Về vấn đề cấp dưỡng vì chị NĐ không yêu cầu, nên tạm hoãn việc cấp
dưỡng nuôi con cho anh BĐ. Anh BĐ và chị NĐ có quyền và nghĩa vụ đối với con chung sau khi ly hôn theo quy định.
Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27
Chị Nguyễn Thị NĐ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện BĐ sát nhân dân
huyện V, tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238 và 235 của Bộ luật tố
tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56; 58; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Nguyễn Thị NĐ được ly hôn anh Lý Văn
BĐ.
2. Về con chung: Giao cháu Lý Trung F1 – Sinh ngày 07/08/2013 cho chị
Nguyễn Thị NĐ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh BĐ vì chị NĐ không yêu cầu.
Anh BĐ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Chị NĐ cũng như các thành viên trong gia đình không được cản trở anh BĐ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lý Trung F1.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị NĐ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ
thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị NĐ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0005025 ngày 21 tháng 10 năm 2022.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.)
Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho các
đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện V; - CCTHADS huyện V; - UBND xã HO; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Kim Tuấn |