- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Điểu yêu cầu ly hôn với anh Tán và giải quyết con chung."
- Tòa quyết gì? 1 - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Chúc Đ được ly hôn với anh Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 05 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-02-2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trường Thống.
2. Bà Phan Thị Cẩm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quảng Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 012 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01A/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 16 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Chúc Đ, sinh năm: 1996; địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang. ( Có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1985, địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/9/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Chúc Đ trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2020 chị và anh T được gia đình 2 bên thống nhất tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B. Chung sống hạnh phúc được hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không phù hợp, bất đồng ý kiến trong cuộc sống, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Nay xét thấy vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tình cảm không còn nên không thể tiếp tục chung sống vì vậy chị Đ xin được ly hôn với anh Lê Văn T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có được một đứa con chung là Lê Thị Hương T, giới tính nữ, sinh ngày 10/12/2020 hiện nay đang sống chung với chị Đ. Nay ly hôn chị Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi con không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về Tài sản chung và nợ chung không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lê Văn T để anh trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đ cũng như tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh T không nộp bản tự khai cho Tòa án, cố tình vắng mặt không rõ lý do trong quá trình tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Quá trình thụ lý vụ án, chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng tư cách tham gia tố tụng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tiến hành thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định; tuy nhiên bị đơn vi phạm những quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên tòa không lý do mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh T là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Chị Đ và anh T cưới nhau năm 2020 có đăng ký kết hôn theo quy định, nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đã sống ly thân. Nay chị Đ xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu ly hôn. Đề nghị HĐXX chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Chúc Đ được ly hôn với anh Lê Văn T.
Về con chung, đề nghị giao con chung là Lê Thị Hương T, giới tính nữ, sinh ngày 10/12/2020 hiện nay đang sống chung với chị Đ. Chị Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đề nghị HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Chúc Đ có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; bị đơn anh Lê Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, xét thấy sự vắng mặt của anh T, chị Đ không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị Chúc Đ và anh Lê Văn T.
Nguyên đơn chị Đ yêu cầu ly hôn với bị đơn anh T và yêu cầu giải quyết con chung. Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; chị Đ yêu cầu ly hôn với anh T, anh T có nơi cư trú tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận thụ lý giải quyết là phù hợp.
Do Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh T chung sống với nhau từ năm 2020 anh chị chung sống là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, mặc dù anh chị đã có thời gian để cùng nhau hàn gắn nhưng vẫn không thành và hơn nữa hiện nay anh chị đã sống ly thân. Chị Đ xác định không còn tình cảm với anh T, chị cương quyết yêu cầu ly hôn với anh T nhưng anh T không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình cố tình vắng mặt trong quá trình tòa án giải quyết vụ án. Xét thấy chị Đ không còn tình cảm với anh T và anh T không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình và hiện anh chị đã sống ly thân nhau. Từ đó, thấy rằng mâu thuẫn anh chị đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên căn cứ Điều 56 (ly hôn theo yêu cầu một bên) của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Chúc Đ được ly hôn với anh Lê Văn T là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 01 người con chung Lê Thị Hương T, giới tính nữ, sinh ngày 10/12/2020 hiện nay đang sống chung với chị Đ, chị Đ còng cã ®ñ ®iÒu kiÖn kinh tÕ ®¶m b¶o cho viÖc ch¨m sãc, nu«i dìng con nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy ®Þnh t¹i khoản 2 §iÒu 81 cña LuËt H«n nh©n gia ®×nh, Hội đồng xét xử, xử giao cháu Lê Thị Hương T cho chị Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng (Hiện nay cháu T đang sống chung với chị Đ). Do chị Đ không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nªn héi ®ång xÐt xö kh«ng xem xÐt (Trừ trường hợp có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật).
Anh T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng chị Đ chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003932 ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 21, khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1 - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Chúc Đ được ly hôn với anh Lê Văn T.
2- Về con chung: Giao cháu Lê Thị Hương T, giới tính nữ, sinh ngày 10/12/2020 (hiện nay đang sống chung với chị Đ) cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị Đ không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con nên HĐXX không xem xét (Trừ trường hợp có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật).
Anh T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
3- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
4- Án phí ly hôn sơ thẩm: Tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng chị Đ chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003932 ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
5- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Vĩnh Thuận; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thuận; - UBND xã A; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |