vanban.org

Bản án 05/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Âu Thị K được ly hôn v i anh Bế Văn P.

Về con chung: Giao cháu Bế Hải Y, sinh ngày 30/7/2018 cho chị Âu Thị K chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tu i. Giao cháu Bế Hải N1, sinh ngày 19/7/2021 cho anh Bế Văn P trực tiếp nuôi dư ng, chăm s c, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tu i. Không ai phải cấp dư ng nuôi con chung.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Âu Thị K - Bế Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Âu Thị K được ly hôn v i anh Bế Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 5 - 2023
V/v ly hôn, tranh chấp con chung
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thu Hương;

Ông Nông Đình Công.

-Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tr ng Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 01/2023/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 và Quyết định ho n phiên tòa số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Âu Thị K, sinh năm 1994;

Nơi ĐKHKTT: Thôn N, x T, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn.

Ch ở hiện nay: N1, M, x P, huyện Q, tỉnh B c Ninh.

- Bị đơn: Anh Bế Văn P, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn N, x T, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, đơn xin xét xử v ng mặt và các tài liệu đ được công khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Âu Thị K trình bày: Chị và anh Bế Văn P được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 12 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân x Tri Phương, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Sau khi kết hôn, hai vợ ch ng chung sống hạnh phúc c ng v i bố m ch ng tại thôn N, x T, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn. Đến năm 2016, do hoàn cảnh gia đình kh khăn, hai vợ ch ng c ng nhau xuống B c Ninh tìm việc làm. Đến năm 2017, hai vợ ch ng b t đ u phát sinh mâu thu n, nguyên nhân là anh P thường xuyên uống rượu say, m i l n uống rượu say là đập phá đ đạc và đánh đập chị K. Đến cuối năm 2017, do không chịu đựng được ch ng nên chị K nghỉ việc tại công ty và bỏ về nhà m đ tại thôn L, x Q, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn. Sau đ khoảng hơn 01 tháng thì anh P c ng nghỉ việc và về nhà m vợ để g i chị K về sinh sống tại nhà ch ng, hai vợ ch ng hòa giải mâu thu n, vợ ch ng lại chung sống hạnh phúc, không c mâu thu n gì và anh P đ thay đ i tích cực.

Đến cuối năm 2020, hai vợ ch ng lại phát sinh mâu thu n, nguyên nhân là do anh P không chịu tu chí làm ăn, thường xuyên uống rượu. M i l n say lại đập phá đ đạc, đánh đập và c l n đu i chị K ra khỏi nhà. M ch ng đ nhiều l n can ngăn nhưng anh P không thay đ i. Chị Âu Thị K đưa con là Bế Hải Y về nhà m đ tại x Q sinh sống, còn cháu Bế Hải N1 ở lại v i bố và bà nội tại thôn N, x T. Hiện nay mâu thu n vợ ch ng đ không thể h a giải được, không tìm được tiếng n i chung, mục đích hôn nhân không đạt được, xác định tình cảm không còn nên chị K đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Âu Thị K được ly hôn v i anh Bế Văn P.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị K và anh Bế Văn P c 02 con chung là cháu Bế Hải Y, sinh ngày 30/7/2018 và cháu Bế Hải N1, sinh ngày 19/7/2021. Khi ly hôn chị K yêu c u được là người trực tiếp chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục cháu Bế Hải Y đến khi cháu đủ 18 tu i. Yêu c u anh Bế Văn P là người trực tiếp nuôi dư ng, chăm s c, giáo dục cháu Bế Hải N1 đến khi cháu đủ 18 tu i. Không ai phải cấp dư ng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung, riêng: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra trong quá trình giải quyết, chị Âu Thị K c đơn yêu c u Tòa án không t chức, tiến hành phiên h p hòa giải.

Bị đơn là anh Bế Văn P không c ý kiến gì đối v i Thông báo thụ lý vụ án. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành triệu tập anh Bế Văn P 02 l n để làm việc nhưng anh P v ng mặt không c lý do. Tòa án tiến hành xác minh, làm việc tại nhà v i bà Đinh Thị D là m đ và chị Bế Thị P1, là em gái anh Bế Văn P cho biết mâu thu n của hai vợ ch ng đ xảy ra khoảng hai, ba năm nay. Nguyên nhân là do anh P không tôn tr ng chị K, thường xuyên uống rượu và d ng bạo lực v i m i người, chị K t ng đề cập đến việc ly hôn nhưng anh P mặc kệ không c ý kiến gì, chỉ n i v i gia đình r ng nếu ly hôn thì mong muốn được nuôi dư ng cháu Bế Hải N1, còn cháu Bế Hải Y s do chị K nuôi dư ng và hiện tại thì cháu Bế Hải Y đang ở v i m bên nhà ngoại, còn cháu Bế Hải N1 đang ở v i bố c ng gia đình bên nội. Khi nhận được văn bản của Tòa án, gia đình đều thông báo cho anh P và khi anh P về thăm nhà gia đình đều yêu c u anh P đến Tòa án làm việc nhưng anh P không đến Tòa án làm việc mà lại đi xuống công ty làm việc. Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành giao nhận các văn bản tố tụng và đ ng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng hết thời hạn niêm yết theo quy định anh Bế Văn P v n không c mặt mặc d đ được gia đình thông báo.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đ ng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Âu Thị K đ thực hiện đ y đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Bế Văn P đ được triệu tập hợp lệ những v n v ng mặt tại phiên tòa (hai l n) không c lý do, do vậy anh Bế Văn P không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ c trong h sơ vụ án. Kiểm sát viên đề nghị Hội đ ng xét xử xử cho chị Âu Thị K được ly hôn v i anh Bế Văn P; về con chung: Giao con chung là cháu Bế Hải Y, sinh ngày 30/7/2018 cho chị Âu Thị K nuôi dư ng, chăm s c đến khi cháu đủ 18 tu i, giao cháu Bế Hải N1 sinh ngày 19/7/2021 cho anh Bế Văn P nuôi dư ng, chăm s c, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tu i. Chị Âu Thị K và anh Bế Văn P c quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không c ; về án phí: Chị Âu Thị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu c trong h sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đ ng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Bế Văn P là bị đơn c đăng ký nhân khẩu thường trú tại: Thôn N, x T, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn c đơn xin xét xử v ng mặt. Về việc v ng mặt của anh Bế Văn P tại phiên tòa: Đ được tòa án triệu tập hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Bế Văn P v n không c mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử v ng mặt đương sự theo quy định.

Về nội dung vụ án và nguyên nhân d n đến ly hôn: Quan hệ hôn nhân giữa chị Âu Thị K và anh Bế Văn P được xác lập trên cơ sở tự nguyện, c đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân x Tri Phương, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 29/12/2014, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn hai vợ ch ng chung sống hòa thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thu n do lối sống, cách sống phát sinh d n đến mâu thu n tình cảm vợ ch ng không hòa giải được, anh P không chịu tu chí làm ăn, thường xuyên uống rượu. M i l n say lại đập phá đ đạc, đánh đập và đu i chị K ra khỏi nhà. M ch ng đ nhiều l n can ngăn nhưng anh P không thay đ i, hai vợ ch ng không tìm được tiếng n i chung, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này được cả m ch ng và em ch ng chị Âu Thị K xác nhận. Do đ , chị Âu Thị K yêu c u ly hôn anh Bế Văn P là c căn cứ.

Hội đ ng xét xử xét thấy mâu thu n vợ ch ng đ tr m tr ng, cuộc sống chung không thể kéo dài. Tòa án đ tiến hành triệu tập anh P nhiều l n nhưng anh P không c mặt. Tiến hành xác minh tại nhà bị đơn xác định mâu thu n hai vợ ch ng đ c t lâu, anh P thường xuyên uống rượu và d ng v lực v i m i người. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, hai vợ ch ng không ai còn yêu thương, quan tâm chăm s c nhau, anh Bế Văn P c ng không thể hiện sự hàn g n tình cảm vợ ch ng, do đ chấp nhận yêu c u khởi kiện của chị Âu Thị K và cho chị Âu Thị K được ly hôn v i anh Bế Văn P.

Về con chung: Chị Âu Thị K và anh Bế Văn P c 02 con chung là cháu Bế Hải Y, sinh ngày 30/7/2018 và cháu Bế Hải N1, sinh ngày 19/7/2021. Khi ly hôn chị K yêu c u được là người trực tiếp chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục cháu Bế Hải Y đến khi cháu đủ 18 tu i. Yêu c u anh Bế Văn P là người trực tiếp nuôi dư ng, chăm s c, giáo dục cháu Bế Hải N1 đến khi cháu đủ 18 tu i. Không ai phải cấp dư ng nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án m đ của anh Bế Văn P cho biết mong muốn của anh Bế Văn P là muốn nhận nuôi cháu Bế Hải N1. Tại đơn xin xét xử v ng mặt đề ngày 04/5/2023 của chị Âu Thị K trình bày hai vợ ch ng thỏa thuận về việc nuôi con, cháu Bế Hải Y s do chị Âu Thị K nuôi dư ng, còn cháu Bế Hải N1 do anh Bế Văn P nuôi dư ng, chăm s c và không ai phải cấp dư ng nuôi con chung; thực tế hiện nay cháu Bế Hải Y đang sinh sống v i m và bà ngoại tại x Q, cháu Bế Hải N1 đang sinh sống v i bố và bà nội tại x T. Hội đ ng xét xử xét thấy yêu c u của chị Âu Thị K là c căn cứ và ph hợp, đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung c n chấp nhận.

Về tài sản chung, vay nợ chung, riêng: Nguyên đơn không yêu c u Tòa án xem xét giải quyết, bị đơn không c yêu c u phản tố. Do đ , Hội đ ng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Âu Thị K phải chịu 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nư c theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn c quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Âu Thị K được ly hôn v i anh Bế Văn P.

2. Về con chung: Giao cháu Bế Hải Y, sinh ngày 30/7/2018 cho chị Âu Thị K chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tu i. Giao cháu Bế Hải N1, sinh ngày 19/7/2021 cho anh Bế Văn P trực tiếp nuôi dư ng, chăm s c, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tu i. Không ai phải cấp dư ng nuôi con chung.

Chị Âu Thị K, anh Bế Văn P c quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Âu Thị K phải chịu 300.000 đ ng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nư c. Xác nhận chị Kiều đ nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0006367, ngày 08/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Âu Thị K, anh Bế Văn P v ng mặt c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ