- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Vũ Thị Huyền và anh Trần Xuân Hiệp"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Trần Xuân Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26/4/2023 "Về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Mạnh Quang. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Đình Hiển và bà Đào Thị Thanh Tuyền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số04/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18/4/2023 giữa:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1990; HKTT: Thôn TN, xã HĐ, huyện TL, tỉnh Hưng Yên; Chỗ ở hiện nay: Số nhà 498, phố NT, thị trấn V, huyện TL, tỉnh Hưng Yên “có mặt”
Bị đơn: Anh Trần Xuân Đ, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn TN, xã HĐ, huyện TL, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Trần Bảo Ng, sinh ngày 11/6/2016; Người đại diện hợp pháp cho cháu Ngọc: Chị Vũ Thị H là mẹ đẻ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày: Chị và anh Trần Xuân Đ đăng ký kết hôn tại UBND xã HĐ, huyện TL, tỉnh Hưng Yên ngày 25/07/2015. Sau khi cưới vợ chồng ở cùng với bố mẹ anh Đ tại thôn TN, xã HĐ, huyện TL, tỉnh Hưng Yên. Cuộc sống hôn nhân của vợ chồng hạnh phúc được khoảng 02 năm sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Đ bị trầm cảm phải uống thuốc điều trị về tâm thần nên tình cảm vợ chồng không được như trước. Anh Đ không cảm nhận được tình cảm vợ chồng, không quan tâm tới chị. Sống bên cạnh chồng nhưng chị không cảm nhận được tình cảm, không có sự chia sẻ, thương yêu và cùng nhau hướng tới tương lai với anh Đ. Chị nói chuyện, muốn gần gũi và tâm sự nhưng anh Đ không quan tâm khiến tâm lý của chị bị ảnh hưởng rất nhiều. Chị đã nói đến việc ly hôn nhưng anh Đ bảo tùy chị và không có ý kiến gì. Trước sự việc đó chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở sống ly thân với anh Đ từ tháng 9 năm 2022 cho đến nay. Bản thân chị biết anh Đ bị bệnh tâm thần kinh phân liệt và bị ảnh hưởng rất nhiều trong cuộc sống nhưng chị cũng đã cố gắng cũng như được sự giúp đỡ của bố mẹ anh Đ để mong anh Đ bệnh tật thuyên giảm, vợ chồng cùng nuôi con nhưng mọi hy vọng và cố gắng của chị không có kết quả. Trong nhiều năm nay chị không nhận được sự chia sẻ, lo lắng hay bất kỳ điều gì từ anh Đ. Mâu thuẫn của chị cũng đã được gia đình hai bên khuyên bảo, động viên nhưng không được. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được nên chị giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Đ để ổn định cuộc sống làm ăn nuôi con. Quá trình làm việc với Tòa án, chị đã được giải thích, hướng dẫn làm thủ tục đưa anh Đ đi giám định cũng như việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Đ mất năng lực hành vi dân sự, tuy nhiên chị không yêu cầu và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ theo thủ tục chung.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Trần Bảo Ng, sinh ngày 11/6/2016 hiện đang ở cùng với bố và ông bà nội, chị thường xuyên về thăm cháu. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập anh Trần Xuân Đ đến Toà án để tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ nhưng anh Đ đều vắng mặt không lý do. Cháu Trần Bảo Ng có quan điểm trường hợp bố mẹ ly hôn, cháu ở với bố hay mẹ đều được.
Ông Trần Văn M và bà Lưu Thị T là bố mẹ đẻ anh Đ cho biết: Việc chị H làm đơn ly hôn bản thân anh Đ biết nhưng có quan điểm không lên Tòa án làm việc. Toàn bộ các giấy tờ, văn bản do Toà án gửi về gia đình đã nhận thay anh Đ và trực tiếp thông báo cho anh Đ biết. Nay chị H xin ly hôn với anh Đ quan điểm của gia đình là do vợ chồng tự quyết định và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông bà cung cấp cho Tòa án sổ điều trị bệnh của anh Đ nhưng khi được giải thích, hướng dẫn đưa anh Đ đi giám định cũng như việc yêu cầu Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự ông bà có quan điểm không đồng ý bởi bệnh tình của anh Đ gia đình đã rõ và không muốn làm ảnh hưởng tới tâm lý của con. Gia đình đề nghị Tòa án giải quyết vụ án ly hôn giữa chị H và anh Đ theo thủ tục chung.
Xác minh tại UBND xã HĐ, huyện TL được biết anh Đ đang được hưởng chế độ của người khuyết tật đặc biệt nặng với mức trợ cấp hàng tháng là 720.000 đồng. Tòa án cùng chính quyền địa phương về gia đình anh Đ để trực tiếp phân tích, giải thích, hướng dẫn anh Đ cũng như gia đình thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố anh Đ mất năng lực hành vi dân sự theo quy định nhưng anh Đ cũng như gia đình không yêu cầu, kiên quyết từ chối giám định và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung
Tại phiên toà chị Vũ Thị H giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Trần Xuân Đ, có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Anh Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Ông Trần Văn M là bố đẻ anh Đ có mặt tại phiên tòa, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn giữa hai bên theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ đã chấp hành nghiêm trình tự tố tụng từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến quá trình xét xử công khai tại phiên tòa. Về nội dung: Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn với anh Trần Xuân Đ. Về nuôi con chung giao cháu Trần Bảo Ng, sinh ngày 11/6/2016 cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung với chị, anh Đ được quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
. Về tố tụng: Chị Vũ Thị H khởi kiện ly hôn với anh Trần Xuân Đ có nơi cư trú tại xã HĐ, huyện TL, tỉnh Hưng Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điển a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Đ mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Toà án xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung: Chị Vũ Thị H và anh Trần Xuân Đ đăng ký kết hôn tại UBND xã HĐ, huyện TL, tỉnh Hưng Yên ngày 25/07/2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 29, quyển 01/2015 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Đ bị tâm thần kinh phân liệt nên hai bên không thể tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, không cảm nhận được tình cảm vợ chồng. Anh chị chung sống nhưng không mang lại hạnh phúc cho nhau. Chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 9 năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai, kinh tế hoàn toàn độc lập. Mâu thuẫn của anh chị cũng đã được gia đình khuyên bảo nhưng không được.
Việc vợ chồng chị H anh Đ mâu thuẫn được hai bên gia đình cung cấp: Nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do anh Đ bị ảnh hưởng bởi bệnh tâm thần nên vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị H không nhận được tình cảm từ anh Đ nên vợ chồng ngày một xa cách. Anh chị sống ly thân với nhau từ tháng 9 năm 2022 cho đến nay. Gia đình cũng đã khuyên bảo nhưng tình cảm của vợ chồng chị H không được cải thiện.
Ngoài ra bố mẹ anh Đ là ông Trần Văn M và bà Lưu Thị T cho biết: Việc chị H làm đơn ly hôn bản thân anh Đ biết nhưng có quan điểm không lên Tòa án làm việc. Toàn bộ các giấy tờ, văn bản do Toà án gửi về gia đình đã nhận thay anh Đ và trực tiếp thông báo cho anh Đ được biết. Nay chị H xin ly hôn với anh Đ quan điểm của gia đình là do vợ chồng tự quyết định và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông bà cũng cung cấp cho Tòa án sổ điều trị bệnh của anh Đ. Khi được Tòa án giải thích, hướng dẫn việc gia đình đưa anh Đ đi giám định cũng như việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh mất năng lực hành vi dân sự ông bà thay mặt anh Đ cũng như gia đình có quan điểm không đồng ý đưa anh Đ đi giám định bởi bệnh tình của anh Đ gia đình đã rõ và không muốn làm ảnh hưởng tới tâm lý của anh. Gia đình đề nghị Tòa án giải quyết vụ án ly hôn giữa chị H và anh Đ theo thủ tục chung.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương xã HĐ, huyện TL cung cấp thêm về việc anh Đ hiện đang được hưởng chế độ của người khuyết tật đặc biệt nặng với mức trợ cấp hàng tháng là 720.000 đồng.
Tòa án cũng đã cùng chính quyền địa phương về gia đình anh Đ trực tiếp phân tích, giải thích, hướng dẫn anh Đ cũng như gia đình thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố anh Đ mất năng lực hành vi dân sự theo quy định nhưng anh Đ cũng như gia đình kiên quyết không yêu cầu, kiên quyết từ chối giám định và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Theo hướng dẫn tại mục 6 phần IV Giải đáp số 01/GĐ - TANDTC ngày 07 tháng 4 năm 2017 của TANDTC về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ hướng dẫn: “…khi có chủ thể cho rằng một người là đương sự trong vụ án mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án phải giải thích, hướng dẫn để họ thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự theo quy định nêu trên… trường hợp họ không yêu cầu thì Tòa án giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục chung”. Do các đương sự từ chối đưa anh Đ đi giám định và không yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Đ mất năng lực hành vi dân sự nên Tòa án giải quyết vụ án ly hôn giữa chị H và anh Đ theo thủ tục chung.
Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ đã trầm trọng, anh chị đã không còn chung sống với nhau, không cảm nhận được tình cảm vợ chồng của nhau,mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tại phiên toà.
. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháuTrần Bảo Ng, sinh ngày 11/6/2016. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại chị H đang làm công nhân may với mức lương giao động từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/tháng. Với mức thu nhập như trên chị khẳng định sẽ chăm lo và nuôi dưỡng con cái được đầy đủ. Mặt khác, cháu Ngọc là con gái trong khi đó anh Đ đang phải điều trị bệnh nên để đảm bảo quyền lợi cho cháu về mọi mặt Hội đồng xét xử giao cháu Ngọc cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung với chị.
. Về tài sản, công sức, nợ nần: Chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Sau này nếu anh Đ có yêu cầu về tài sản chung thì sẽ được xem xét bằng một vụ án khác.
. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án lệ phí Tòa án.
. Quan điểm, đề nghị của đại diện VKSND huyện Tiên Lữ tại phiên toà về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Trần Xuân Đ.
Về con chung: Giao cháu Trần Bảo Ng, sinh ngày 11/6/2016 cho chị Vũ Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 4/2023 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Đ không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Sau này nếu anh Đ có yêu cầu về tài sản chung thì sẽ được xem xét bằng một vụ án khác.
Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0004640 ngày 15/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ. Chị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKS huyện Tiên Lữ; - Phòng KTNV Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện Tiên Lữ: - UBND xã HĐ (ĐKKH số 29 ngày 18/11/2016). - Lưu: Hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Đoàn Mạnh Quang |