- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị Thào Thị Pằng với anh Giàng Seo Sử"
- Tòa quyết gì? của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1,3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m…
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-3-2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S - TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bình Trọng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Giàng A Sủ; 2. Ông Phạm Ức Trai.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Lù Xuân Tiến - Kiểm sát viên. Ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2023/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị T T P sinh năm 1985. Địa chỉ nơi cư trú: Thôn L C, xã S C, huyện S, tỉnh Lào Cai; địa chỉ để Tòa án liên hệ: Thôn M T, xã Q H T, huyện S, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt. 2. Bị đơn: Anh G S S sinh năm 1987. Địa chỉ nơi cư trú: Thôn L C, xã S C, huyện S, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt. 3. Người phiên dịch: Bà L T N sinh năm 1991. Địa chỉ nơi cư trú: Thôn S C, xã N S, huyện S, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Đơn khởi kiện đề ngày 12/01/2023, biên bản lấy lời khai chị T T P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh S tự nguyện về chung sống với nhau từ
năm 2007 được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Đến nay chị và anh S vẫn không đăng ký kết hôn, quá trình chung sống giữa chị và anh S đã có với nhau được 02 con chung, nhưng đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do năm đó cả chị và anh S sang Trung Quốc làm thuê kiếm tiền, do anh S thường xuyên chơi cờ bạc, vợ chồng không hợp nhau trong làm ăn nên thường xuyên cãi chửi nhau và tháng 3/2018 anh S bị cơ quan chức năng bên Trung Quốc bắt và xử 03 năm tù về tội “Vượt biên trái phép”, nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng trầm trọng kể từ tháng 5/2022 vì khi anh S trở về địa phương có đưa 01 người phụ nữ về cùng sinh sống một thời gian. Do vậy mà từ tháng 6/2022 chị đã bỏ hẳn về nhà bố mẹ đẻ tại thôn M T, xã Q H T, huyện S, anh chị sống ly thân với nhau từ thời gian đó cho đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh G S S.
- Về con chung, yêu cầu về nuôi con khi ly hôn: Chị và anh S có 02 con chung là cháu G X C sinh ngày 19/09/2008 và cháu G T S sinh ngày 27/12/2009, cả hai cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường hiện nay đang trực tiếp ở với anh S do anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Ban đầu chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu S1, để anh S trực tiếp nuôi cháu C khi ly hôn nhưng sau đó chị thay đổi nguyện vọng là để anh S được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu Cháu C và cháu S1cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị không phải cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn.
- Về quan hệ tài sản, về quyền và nghĩa vụ về tài sản chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Yêu cầu của bị đơn:
- Về quan hệ hôn nhân anh S trình bày và đề nghị: Anh và chị P về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007 được tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương nhưng cho đến nay anh chị không làm thủ tục Đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, anh và chị P chung sống hạnh phúc và đã có với nhau 02 con chung, quá trình chung sống anh và chị P có xảy ra cãi chửi nhau, theo anh thì năm 2019 khi anh và chị P xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc làm thuê thì anh bị bắt và bị xử phạt 03 năm tù, đến tháng 5/2022 anh trở về Việt Nam thì giữa anh và chị P sống ly thân hẳn với nhau, chị P bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn M T, xã Q H T, huyện S sinh sống, anh chị không quan tâm đến nhau từ đó cho đến nay, sau khi chấp hành án phạt tù trở về thì anh cũng có quen một người phụ nữ khác nhưng không đưa nhau về nhà chung sống như vợ chồng. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án anh S muốn có thêm thời gian để vợ chồng nói chuyện, sau đó anh sẽ quyết định về quan hệ vợ chồng.
- Về con chung, yêu cầu về nuôi con khi ly hôn: Anh S thừa nhận anh và chị P có 02 con chung như chị P trình bày là đúng, hiện nay anh chị đang sống ly thân các cháu đang ở cùng với anh; trường hợp mà anh chị ly hôn thì anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu Cháu C và cháu S1cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, anh làm nghề trồng trọt và đi làm thuê thu nhập bình quân một tháng của anh được khoảng 5.000.000 đồng còn mức thu nhập của chị P thì anh không nắm được.
- Về quan hệ tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
3.1. Về việc chấp hành luật tố tụng:
- Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 28, 35, 39; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68; xác minh thu thập chứng cứ, giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định tại các Điều từ 93 đến Điều 97. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định tại Điều 203.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Trong quá trình xét xử vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
3.2. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội xét xử theo hướng:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị T T P và anh G S S.
- Về nuôi con khi ly hôn: Giao các cháu G X C, G T S cho anh G S S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị P không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết.
- Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
3. 3. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm pháp luật: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giao cho nguyên đơn, bị đơn đầy đủ các văn bản tố tụng dân sự, chị P và anh S không đăng ký kết hôn nên Tòa án không tiến hành hòa giải về quan hệ hôn nhân mà chỉ tiến hành thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về việc nuôi con chung. Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập cho các đương sự nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng. Do vậy Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T T P và anh G S S tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007 được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán nhưng cho đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian khá dài thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do năm 2019 anh S vượt biên trái phép đã bị cơ quan chức năng bên Trung Quốc bắt giữ và xử phạt 03 năm tù, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, tháng 5/2022 anh trở về Việt Nam thì giữa anh và chị P sống ly thân hẳn không còn quan tâm đến nhau nữa. Do anh chị không đăng ký kết hôn nên chị P đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn; căn cứ vào khoản 2 Điều 53 của luật hôn nhân gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ giữa anh S với chị P là vợ chồng.
Về nuôi con khi ly hôn: Xét thấy cả chị P và anh S đều là lao động chính và có điều kiện để trực tiếp nuôi con xong chị P không có nguyện vọng trực tiếp nuôi con, anh S lại có nguyện vọng trực tiếp nuôi cả hai con, ý kiến của cháu Cháu C và cháu S1 là được ở với bố; anh S làm nghề trồng trọt và đi làm thuê thu nhập bình quân một tháng được 5.000.000 đồng, hiện nay hai con chung của anh chị đang trực tiếp ở cùng anh S và do anh S trực tiếp nuôi dưỡng, trong suốt thời gian anh chị sống ly thân hai cháu ở cùng anh S do anh S trực tiếp nuôi dưỡng vẫn đảm bảo điều kiện sinh hoạt, phát triển bình thường. Xét đến quyền lợi của con, sự phát triển về thể chất, tinh thần và để ổn định cuộc sống của các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cả hai cháu Cháu C và cháu S1 cho anh S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81của Luật hôn nhân và gia đình và các quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn:
Anh G S S không đề nghị chị P phải cấp dưỡng nuôi con, hai cháu Cháu C và cháu S1cũng đã gần đến tuổi trưởng thành ít nhiều phụ giúp được gia đình, anh S có việc làm, có thu nhập, không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con, sau này nếu anh S trực tiếp nuôi 02 con mà không đảm bảo điều kiện nuôi con thì có thể đề nghị Tòa án giải quyết việc yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con sau. Trong vụ án này Hội đồng xét xử không buộc chị P phải cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn vẫn đảm bảo cho sự phát triển của các cháu và phù hợp với ý chí của các đương sự.
Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T T P và anh G S S không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.
Về nghĩa vụ chịu án phí: Chị T T P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238
của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1,3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận chị T T P và anh G S S là vợ chồng.
2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao hai cháu G X C sinh ngày 19/9/2008 và cháu G T S sinh ngày 27/12/2009 cho anh G S S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Cháu C và cháu S1 đủ 18 tuổi. Chị T T P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị T T P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006961 ngày 16/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Lào Cai. Chị P đã nộp đủ tiền án phí;
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS ND H. S (2); - Chi cục THADS H. S; - UBND xã Q H T; - Các đương sự (2); - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Trần Bình Trọng |