- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh…"
- Tòa quyết gì? Không công nhận chị Hoàng Thị H và anh Trần Xu n T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 luật Hôn nh n và Gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày 13/01/2023 “Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Đông
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lô Thị Hà.
2/ Ông Phan Bá Lịch.
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến - Thư k T a án nh n d n hu n Qu Châu, tỉnh Ngh An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng V n – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở T a án nh n d n hu n Qu Châu, tỉnh Ngh An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nh n và gia đình thụ l số: 91/2022/TLST – HNGĐ ngà 21 tháng 7 năm 2022 về vi c “Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng k kết hôn” theo qu ết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2022/QĐXXST- HNGĐ ngà 26 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1985. Trú tại: Bản ĐC, xã CB, hu n QC, tỉnh Ngh An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Trần Xuân T, sinh năm 1980. Trú tại: Bản ĐC, xã CB, hu n QC, tỉnh Ngh An. (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi ki n ngà 21/7/2022 và qua l i khai trong quá trình giải qu ết vụ án, cũng như tại phiên t a, ngu ên đơn là chị Hoàng Thị H trình bày:
Chị Hoàng Thị H và anh Trần Xu n T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001, cho đến lúc chị H khởi ki n êu cầu giải qu ết l hôn giữa hai bên không đăng k kết hôn theo qu định của pháp luật. Chị H và anh T chung sống hạnh phúc một th i gian thì bắt đầu nả sinh m u thuẫn, nguyên nhân do tính cách hai bên không h a hợp, thư ng xu ên xả ra m u thuẫn, cãi vã, cuộc sống chung không có hạnh phúc, luôn trong tình trạng căng thẳng, chị H và anh T không c n sống chung từ tháng 7 năm 2021 đến na , chị H thấ rằng giữa hai bên không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải qu ết cho l hôn với anh Trần Xu n T.
Về con chung: Trong th i gian chung sống với nhau, chị H và anh T có 02 ngư i con chung là Trần Xu n Q, sinh ngà 04/5/2002 và Trần Hà A, sinh ngày 15/10/2011. Ngư i con đầu Trần Xu n Q đã trên 18 tuổi, trưởng thành chị H không êu cầu giao nuôi, đề nghị giao ngư i con thứ hai chưa đủ 18 tuổi, trưởng thành Trần Hà A cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không êu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong đơn khởi ki n và l i khai ban đầu chị H êu cầu T a án giải qu ết đối với khối tài sản chung được tạo lập trong th i gian chung sống với anh T gồm 02 thửa đất đã được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất và 01 căn nhà cấp 4, tuy nhiên trước khi vụ án được đưa ra xét xử chị H có đơn tự ngu n xin rút một phần êu cầu khởi ki n của mình đối với êu cầu chia tài sản chung.
- Bị đơn anh Trần Xu n T: Sau khi thụ l vụ án T a án đã tiến hành tống đạt trực tiếp Thông báo thụ l vụ án, bản sao đơn khởi ki n và tài li u chứng cứ kèm theo đơn khởi ki n cùng giấ tri u tập theo qu định nhưng không thực hi n được, qua xác minh do anh T không có mặt tại địa phương, quá trình xác minh tại nơi cư trú xác định bố, mẹ đẻ anh T đã chết, hi n chỉ có anh trai ruột của anh T là ông Trần Xuân B sinh sống tại dịa phương, tu nhiên quá trình làm vi c ông B từ chối không hợp tác làm vi c. Trước khi nộp đơn khởi ki n và trong quá trình giải qu ết vụ án ngu ên đơn có liên lạc qua đi n thoại thông báo cho anh T biết vi c mình khởi ki n, yêu cầu anh T có mặt để tham gia giải qu ết vụ án nhưng anh T không có mặt, cố tình giấu địa chỉ không cung cấp cho bị đơn và T a án biết nơi mình hi n đang sinh sống, làm vi c để tiến hành tống đạt giấ t , lấ l i khai theo qu định.
- kiến của đại di n Vi n kiểm sát nh n d n hu n Qu Hợp tại phiên t a:
Qua kiểm sát giải qu ết vụ án từ khi thụ l vụ án cho đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên t a thấ rằng: Trong quá trình giải qu ết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư k , ngu ên đơn đã chấp hành đúng qu định của Bộ luật Tố tụng d n sự, thủ tục tố tụng tiến hành tại phiên t a tu n thủ đúng qu định của Bộ luật tố tụng d n sự. Ngu ên đơn có mặt tham gia giải qu ết vụ vi c theo giấ tri u tập, tu n thủ đúng qu ền và nghĩa vụ theo qu định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng d n sự. Trong quá trình giải qu ết vụ án bị đơn cố tình giấu địa chỉ, vắng mặt trong quá trình giải qu ết vụ án không có lý do, không chấp hành đầ đủ qu ền, nghĩa vụ theo qu định, đã được niêm ết các văn bản tố tụng, giấ tri u tập và qu ết định đưa vụ án ra xét xử theo qu định nhưng vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần thứ hai không có l do, cần áp dụng các qu định tại Bộ luật tố tụng d n sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo qu định.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 14; 15; 81; 82; 83 Luật Hôn nh n và gia đình; Điều 28; 35; 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị qu ết 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban thư ng vụ Quốc Hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí T a án, để xét xử.
Không công nhận chị Hoàng Thị H và anh Trần Xuân T là vợ chồng.
Giao con chung Trần Hà A, sinh ngày 15/10/2011 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Xu n T, bên không trực tiếp nuôi con có qu ền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trước khi vụ án được đưa ra xét xử ngu ên đơn đã tự ngu n rút một phần êu cầu khởi ki n đối với êu cầu chia tài sản chung, vi c ngu ên đơn rút một phần êu cầu là tự ngu n và hợp pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với phần êu cầu chia tài sản chung, không không tiếp tục xem xét, giải qu ết.
Buộc ngu ên đơn phải chịu tiền án phí d n sự sơ thẩm theo qu định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Hoàng Thị H và anh Trần Xu n T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001 nhưng không đăng k kết hôn theo qu định, na chị H có đơn êu cầu giải qu ết ly hôn đối với anh T, đề nghị giao ngư i con thứ hai chưa thành niên cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị H không êu cầu buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, trước khi vụ án được đưa ra xét xử chị H tự ngu n rút phần êu cầu chia tài sản chung giữa hai bên. Theo qu định tại khoản 2 Điều 53 luật Hôn nh n và gia đình và khoản 7 Điều 28 của Bộ luật tố tụng d n sự, quan h pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng k kết hôn”.
Bị đơn anh Trần Xu n T có nơi đăng k hộ khẩu thư ng trú và địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở xóm ĐC, xã CB, hu n QC, tỉnh Ngh An, nên vụ án thuộc thẩm qu ền giải qu ết của Tòa án nh n d n hu n QC, tỉnh Ngh An theo qu định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng d n sự. Trong quá trình giải qu ết vụ án ngu ên đơn chấp hành đúng qu định về qu ền và nghĩa vụ theo qu định của Bộ luật tố tụng d n sự, bị đơn đã được niêm ết thông báo, bản sao đơn khởi ki n và các tài li u, chứng cứ về vi c ngu ên đơn có đơn khởi ki n xin l hôn theo qu định nhưng không có mặt để tham gia giải qu ết vụ án, cố tình vắng mặt tại các phiên họp, h a giải và làm vi c tại Tòa án, quá trình giải qu ết vụ án không cung cấp địa chỉ nơi cư trú, làm vi c hi n tại cho bị đơn và T a án được biết để liên h giải qu ết vụ án, nên vụ án thuộc trư ng hợp không tiến hành h a giải được theo Điều 207 Bộ luật tố tụng d n sự.
Quá trình xác minh giải qu ết vụ án, ngu ên đơn đã cung cấp đúng địa chỉ của bị đơn, nhưng bị đơn cố tình giấu địa chỉ, không có mặt tham gia giải qu ết vụ án theo qu định, căn cứ vào hướng dẫn của Nghị qu ết số 04/2017/NQ-HĐTP ngà 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán T a án nh n d n tối cao, T a án vẫn tiến hành thụ l , giải qu ết vụ án theo thủ tục chung, do đó xem xét áp dụng Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng d n sự để xét xử vắng mặt đối với bị đơn. Trước khi vụ án được đưa ra xét xử ngu ên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên t a, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng d n sự, tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những ngư i tham gia tố tụng tại phiên t a theo qu định.
Về quan h hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Trần Xuân T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001 cho đến khi sống l th n vào tháng 7 năm 2021, hai bên đủ điều ki n đăng k kết hôn theo qu định, không thuộc trư ng hợp cấm đăng k kết hôn nhưng hai bên không tiến hành đăng k kết hôn theo qu định của pháp luật, nên quan h hôn nhân giữa hai bên không hợp pháp.
Sau một th i gian sống chung hạnh phúc, giữa chị H và anh T bắt đầu nả sinh m u thuẫn, ngu ên nh n m u thuẫn theo chị H trình bày, do hai bên không có tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngà , dẫn đến thư ng xu ên xả ra mâu thuẫn, va chạm, cuộc sống không có hạnh phúc, đến tháng 7 năm 2021 anh T bỏ nhà đi làm ăn xa, tu có liên lạc về gia đình nhưng không cung cấp địa chỉ nơi mình hi n đang làm vi c, sinh sống, đến na chị H xác định không c n tình cảm với anh T nên để nghị Tòa án giải qu ết l hôn. Qua xem xét tài li u, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ, cũng như l i khai của ngu ên đơn và xác minh tại địa phương cho thấ , giữa hai bên có m u thuẫn xả ra, đã sống l th n kể từ tháng 7 năm 2021, trong th i gian l th n không có sự quan tâm hay nỗ lực hàn gắn tình cảm, quá trình giải qu ết vụ án cũng như tại phiên tòa ngu ên đơn giữ ngu ên kiến êu cầu giải qu ết ly hôn. Xét thấ , chị Hoàng Thị H và anh Trần Xu n T đủ điều ki n đăng k kết hôn theo qu định, không thuộc trư ng hợp cấm đăng k kết hôn nhưng không tiến hành đăng k kết hôn theo qu định, do đó căn cứ vào qu định của pháp luật cần tu ên bố không công nhận quan h vợ chồng giữa chị Hoàng Thị H và anh Trần Xuân T.
Về con chung: Sau khi anh Trần Xu n T bỏ nhà đi làm ăn xa từ tháng 7 năm 2021, các con chung do chị Hoàng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng. Đối với ngư i con đầu Trần Xu n Q, sinh ngà 04/5/2002 đã trên 18 tuổi, trưởng thành và tự lập, quá trình giải qu ết vụ án chị H êu cầu giao ngư i con chưa thành niên Trần Hà A, sinh ngà 15/10/2011 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ngu n vọng của cháu Trần Hà A cũng mong muốn được sống cùng chị H, anh T hi n không rõ địa chỉ nơi đang cư trú, sinh sống do đó cần xem xét giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Xu n T là hợp l . Bên không trực tiếp nuôi con có qu ền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong th i gian giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, nếu anh T nhận thấ chị H không đủ điều ki n, khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, theo qu định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng d n sự; Điều 84 luật Hôn nhân và Gia đình, anh T có qu ền khởi ki n êu cầu tha đổi lại ngư i trực tiếp nuôi con bằng một vụ án khác theo qu định.
Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị H tự ngu n rút êu cầu đối với phần chia tài sản chung, không êu cầu Toà án tiếp tục giải qu ết trước khi vụ án được đưa ra xét xử, căn cứ vào khoản 2 Điều 71 và Điều 244 Bộ luật tố tụng d n sự, ngu ên đơn có qu ền rút một phần êu cầu khởi ki n trong quá trình giải qu ết vụ án, vi c rút êu cầu của ngu ên đơn không vượt quá phạm vi êu cầu khởi ki n và hoàn toàn tự ngu n, nên Hội đồng xét xử chấp nhận êu cầu và đình chỉ xét xử đối với phần êu cầu chia tài sản chung.
Sau này chị Hoàng Thị H có qu ền êu cầu giải qu ết đối với phần tài sản chung theo qu định của pháp luật tại một vụ án khác nếu có tranh chấp và có yêu cầu khởi ki n.
Về án phí: Ngu ên đơn chịu án phí d n sự sơ thẩm theo qu định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 14; 15; 81; 82 và 83 luật Hôn nh n và Gia đình.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng d n sự; khoản 5 Điều 27 Nghị Qu ết 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban thư ng vụ Quốc Hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l , và sử dụng án phí và l phí T a án, xử:
1. Không công nhận chị Hoàng Thị H và anh Trần Xu n T là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao con chung Trần Hà A, sinh ngày 15/10/2011 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, tạm hoãn vi c cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Xu n T.
Bên không trực tiếp nuôi con có qu ền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị H chịu án phí d n sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ trong số tiền 6.500.000 đồng (Sáu tri u năm trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí. Trả lại cho chị Hoàng Thị H 6.200.000 đồng (Sáu tri u hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí c n lại đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, l phí t a án số: 0006440 ngày 21/7/2022 tại Chi cục thi hành án d n sự hu n Qu Ch u, tỉnh Ngh An.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt ngu ên đơn, vắng mặt bị đơn.
Ngu ên đơn và bị đơn có qu ền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngà , kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm ết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ngh An; - VKSND tỉnh Ngh An; - VKSND hu n Qu Ch u; - Chi cục THADS hu n Qu Ch u; - UBND xã CB, hu n QC, tỉnh Ngh An; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hà Văn Đông |