vanban.org

Bản án 05/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị T xin ly hôn với anh Nguyễn Văn P"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HNGĐ – ST
Ngày 17/02/2023.
V/v: Xin ly hôn và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà H’Năm Bkrông.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Phạm Xuân Vinh.

2.Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hòa Bình – Thư ký Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa: Ông Y Dim Kbuôr –Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại Toà án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 446/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXX – HNGĐ ngày 03/901/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐ-HPT ngày 02/02/2023 giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Tổ dân phố 11, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1989.

Đija chỉ : Địa chỉ: Tổ dân phố 11, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

1.Trong bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Võ Thị T trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Văn P có tìm hiểu, yêu thương nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 29/12/2014 trên cơ sở tự nguyện. Chúng tôi chung sống hạnh phúc được một thời gian, sinh được 01 con chung thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Do tôi và anh P không còn tình cảm với nhau, không thể tiếp tục duy trì được mối quan hệ hôn nhân nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

-Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi có 02 đứa con chung là cháu Nguyễn Văn Duy K, sinh ngày 16/11/2014 và cháu Nguyễn Thị Quỳnh T, sinh ngày 06/02/2016. Tôi có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn P phải cấp dưỡng nuôi 02 con là 3.000.000 đồng/tháng.

-Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn P vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và xét xử.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

-Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án:

Đối với quan hệ hôn nhân: Căn cứ và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay có thể xác định tình trạng hôn nhân của chị Võ Thị T và anh Nguyễn Văn P mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, chị Võ Thị T và anh Nguyễn Văn P đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Do đó có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị T.

Đối với con chung: Vợ chồng chị T anh P có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Duy K, sinh ngày 16/11/2014 và cháu Nguyễn Thị Quỳnh T, sinh ngày 06/02/2016, quá trình giải quyết vụ án chị Võ Thị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung do hiện nay các cháu đang cùng sống với mẹ và đang được chị T trực tiếp chăm sóc. Nguyện vọng của chị T là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của con, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy, căn cứ vào khỏan 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Nguyễn Văn Duy K và cháu Nguyễn Thị Quỳnh T cho chị Võ Thị T nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn chị Võ Thị T yêu cầu giải quyết buộc anh Nguyễn Văn P cấp dưỡng nuôi 02 con là 3.000.000 đồng/tháng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Từ những nhận định nêu trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Duy K, sinh ngày 16/11/2014 và cháu Nguyễn Thị Quỳnh T, sinh ngày 06/02/2016 cho chị Võ Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị T về việc buộc anh Nguyễn Văn P phải cấp dưỡng nuôi 02 con là 3.000.000 đồng/tháng.

Đối với tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, xem xét ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1].Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về trình tự thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về nội dung:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị T và anh Nguyễn Văn P có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 18/12/2017, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Duy K, sinh ngày 16/11/2014 và cháu Nguyễn Thị Quỳnh T, sinh ngày 06/02/2016. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh Nguyễn Văn P không đến tham gia tố tụng.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Võ Thị T và anh Nguyễn Văn P đã đến mức trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 đến nay mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình, chị T xác định tình cảm không còn và kiên quyết xin ly hôn. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị T và anh Nguyễn Văn P không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị T, cho chị Võ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

Đối với con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh P có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Duy K, sinh ngày 16/11/2014 và cháu Nguyễn Thị Quỳnh T, sinh ngày 06/02/2016, quá trình giải quyết vụ án chị Võ Thị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung do hiện nay các cháu đang cùng sống với mẹ và đang được chị T trực tiếp chăm sóc. Xét thấy nguyện vọng của chị T là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của con, phù hợp với quy định của pháp luật, trong quá trình giải quyết vụ án anh P không có mặt nên không thể xem xét nguyện vọng của anh P về con chung. Vì vậy, căn cứ vào khỏan 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Nguyễn Văn Duy K và cháu Nguyễn Thị Quỳnh T cho chị Võ Thị T nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành là đúng quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, chị Võ Thì Thủy đề nghị anh Nguyễn Văn P phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 3.000.000 đồng/tháng. Xét thấy yêu cầu của chị T là chính đáng, đảm bảo cho sự chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

-Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

. Về án phí: Chị Võ Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét thấy ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bởi các lẽ trên:

QUYEÁT ÑÒNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82 , 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị T.

-Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

-Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Duy K, sinh ngày 16/11/2014 và cháu Nguyễn Thị Quỳnh T, sinh ngày 06/02/2016 cho chị Võ Thị T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ18 tuổi).

Anh Nguyễn Văn P được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên anh P không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn P phải cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng là từ khi bản án có hiệu lực phá luật cho đến khi cháu Nguyễn Văn Duy K và cháu Nguyễn Thị Quỳnh T đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi).

-Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

-Về án phí:

Chị Võ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 60AA/2021/0016525 ngày 17/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đăk Lăk.

Anh Nguyễn Văn P phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. *Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Đắk Lắk;

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND huyện K; -Chi cục THADS huyện K; -UBND thị trấn P;

(Đã ký) -Các đương sự; -Lưu hồ sơ, TA.

H’ Năm Bkrông

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

H’Năm Bkrông *Nơi nhận:

Cỡ chữ