vanban.org

Bản án 05/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 19/01/2023.
Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn A

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành T

2. Bà Phạm H G

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng T2 S - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Bà Trần Phƣơng T1 – kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 387/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1973 (có mặt).

Địa chỉ: tổ 5, ấp Sơn T3, xã Mỹ T3, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn R, sinh năm 1965 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 5, ấp Sơn T3, xã Mỹ T3, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn R tự tìm hiểu yêu thương nhau được hai bên gia đình tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/11/2002. Quá trình chung sống giữa chị H và anh R lúc đầu rất vui vẻ, hạnh phúc. Đến giữa năm 2020 vợ cH bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do anh R thường xuyên không chăm lo cho gia đình, dùng lời lẽ xúc phạm và có hành vi đánh chị H nhiều lần. Chị H nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh R không thay đổi đến đầu năm 2021 do mâu thuẫn nên chị H và anh R đã ly thân nhau cho đến nay. Xét thấy không còn tình cảm nên chị Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn R.

- Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn R có 02 người con chung tên Nguyễn Văn T2, sinh năm 1993 và Nguyễn Văn T3, sinh năm 1995 hiện các con đều đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị H và anh R tự thỏa T3 nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H và anh R không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn R trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn R và chị Nguyễn Thị H tự tìm hiểu yêu thương nhau được hai bên gia đình tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/11/2002. Quá trình chung sống giữa anh và chị H lúc đầu rất vui vẻ, hạnh phúc. Đến đầu năm 2020 vợ cH bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do đó cuộc sống vợ cH không hòa hợp và chị H sống không chung thủy. Ý kiến anh R nay chị H cương quyết ly hôn thì anh R đồng ý ly hôn với chị H.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh Nguyễn Văn R và chị Nguyễn Thị H có 02 người con chung tên Nguyễn Văn T2, sinh năm 1993 và Nguyễn Văn T3, sinh năm 1995 hiện các con đều đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh R và chị H tự thỏa T3 nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh R và chị H không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

* Tại phiên tòa vị đại diện VKS phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Thư ký thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 và Điều 72 BLTTDS.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình ghi nhận cho chị H được T3 tình ly hôn với anh R. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Đề nghị HĐXX không xem xét. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn R. Anh R cư trú trên địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn R có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn R tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn R xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2002 trên cơ sở tự nguyện, anh chị có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/11/2002. Như vậy, hôn nhân giữa chị H và anh R là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Theo đơn khởi kiện chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh R do tình cảm vợ cH không còn và không thể hàn gắn được. Xét yêu cầu của chị H thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình chung sống với nhau, chị H trình bày cuộc sống vợ cH anh chị mâu thuẫn do anh R không chăm lo cho gia đình, thường xuyên dùng lời lẽ xúc phạm và có hành vi đánh chị H. Chị H nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh R không thay đổi. Đến đầu năm 2020 do mâu thuẫn nên chị H và anh R đã ly thân nhau cho đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị Nguyễn Thị H đoàn tụ để nuôi dạy con chung đến tuổi trưởng thành nhưng chị H vẫn kiên quyết muốn ly hôn với anh R. Tòa án có tiến hành ghi lời khai của anh R thì anh R cho rằng cuộc sống vợ cH giữa anh và chị H từ năm 2020 thường xảy ra mâu thuẫn, anh chị hiện đã ly thân. Nay chị H cương quyết ly hôn với anh thì anh R cũng đồng ý. Qua đó chứng minh được mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh R đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ cH không còn và hôn nhân không đạt được mục đích. Nay chị H xin ly hôn với anh R và anh R cũng đồng ý ly hôn với chị H. HĐXX xét thấy nên ghi nhận cho chị H và anh R được T3 tình ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn R có 02 người con chung tên Nguyễn Văn T2, sinh năm 1993 và Nguyễn Văn T3, sinh năm 1995 hiện các con đều đã trưởng thành, không có nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn R tự thỏa T3 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn R đều xác nhận không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Ý kiến phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất là có cơ sở để được HĐXX xem xét chấp nhận trong quá trình nghị án.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 55; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên Xử:

1/. Về hôn nhân : Ghi nhận sự T3 tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Văn R.

2/. Về con chung: Có hai người con chung tên: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1993 và Nguyễn Văn T3, sinh năm 1995. Hiện các cháu đã trưởng thành không có nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung nên miễn xét.

3/. Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa T3, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

4/. Về nợ chung: Các đương sự đều trình bày không có nợ chung, không có cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

5/. Về án phi hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn

́ nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi đa nô ̣p theo biên lai thu tạm ứng án phí , lệ phí Tòa án sỗ

́ 0008116

́ ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang . Theo đó chị H không phải nộp thêm.

6/. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T3 thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ