vanban.org

Bản án 05/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị O.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị O được ly hôn với ông Lương Văn T. [2]. Về con chung: Giao con chung Lương Xuân B sinh ngày 01/4/2008 cho bà Bùi Thị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Bùi Thị O yêu cầu được ly hôn với ông Lương Văn T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị O.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EAKAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 27/02/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhã Phương.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Nguyễn Thế Hằng

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện EaKar.

- Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 27/02/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 446/2022/TLST - HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2022; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 19/01/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị O, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lương Văn T, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình làm việc tại Toà án nguyên đơn bà Bùi Thị O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà O và ông Lương Văn T sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 15/5/2012. Trong quá trình chung sống do cả hai bất đồng quan điểm sống, ông T không chịu khó làm ăn, chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Đến tháng 10/2013 mâu thuẫn trầm trọng, ông T đã bỏ đi khỏi đi địa phương từ đó cho đến nay.

Bà O đã làm đơn yêu cầu tuyên bố ông T mất tích, đã được Toà án thụ lý giải quyết bằng Quyết định giải quyết việc dân sự số 09/2022/QĐST ngày 03/8/2022 tuyên bố ông Lương Văn T mất tích.

Xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy bà O đề nghị Tòa án giải quyết cho bà O được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà O và ông T có 01 con chung là Lương Xuân B sinh ngày 01/4/2008, từ khi ly thân đến nay con chung đều sống cùng bà O, do đó sau khi ly hôn, bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Lương Xuân B cho đền khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ: Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lương Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Ea Kar niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn cũng không tiến hành hòa giải được để các đương sự đoàn tụ và thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện EaKar đã ban hành các văn bản tố tụng, triệu tập các đương sự để tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nhưng bị đơn không tham gia để giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Bùi Thị O có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lương Văn T vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt các đương sự. Bà Bùi Thị O vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho bà O được ly hôn với ông T. Bà O có nguyện vọng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lương Xuân B sinh ngày 01/4/2008 cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng tiền nuôi con đồng thời sẽ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung và nợ chung không đề nghị tòa án giải quyết.

* Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã ban hành các quyết định, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật; Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị O. Cho bà Bùi Thị O được ly hôn với ông Lương Văn T.

- Về con chung: Giao con chung Lương Xuân B sinh ngày 01/4/2008 cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Bùi Thị O có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện EaKar giải quyết việc hôn nhân, con chung đối với ông Lương Văn T, đơn khởi kiện của bà O được Tòa án nhân dân huyện EaKar xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện EaKar.

Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt các đương sự: Tòa án nhân dân huyện EaKar đã tiến hành tống đạt niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự. Tuy nhiên tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

Bà Bùi Thị O và ông Lương Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cư Elang, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 15/5/2012 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo bà O xác định trong cuộc sống hôn nhân do vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng để tiếp tục cuộc sống hôn nhân nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được và ông T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2013 đến nay. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà O có nguyện vọng được ly hôn với ông Lương Văn T.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định không rõ nguyên nhân mâu thuẫn của bà O và ông T là gì, không báo chính quyền địa phương nhưng ông T và bà O đã không sống chung với nhau từ khi ông T bỏ đi khỏi địa phương năm 2013 cho đến nay. Đồng thời Toà án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk đã tuyên bố ông Lương Văn T là mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 09/2022/QĐST ngày 03/8/2022.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị O, cho bà Bùi Thị O được ly hôn với ông Lương Văn T.

Về con chung: Bà O và ông T có một con chung là Lương Xuân B sinh ngày 01/4/2008.

Tại bản tự khai, Lương Xuân B có nguyện vọng được ở với mẹ là Bùi Thị O. Qua xác minh tại chính quyền địa phương, con chung Lương Xuân B đã sống với bà O từ nhỏ cho đến nay. Để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh về tâm, sinh lý, cũng như để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung là hoàn toàn phù hợp và thỏa đáng nên căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao Lương Xuân B cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về trợ cấp nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết

Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đề cập.

Về án phí: Bà Bùi Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 203, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, và Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 khoản 2 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị O.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị O được ly hôn với ông Lương Văn T.

[2]. Về con chung: Giao con chung Lương Xuân B sinh ngày 01/4/2008 cho bà Bùi Thị O trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Ông Lương Văn T được quyền đi lại thăm nom con chung và không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông T không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.

[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[4]. Về án phí: Bà Bùi Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2021/0020261 ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

[5]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ