- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ-ST"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Trọng P, tuyên xử:
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18/4/2023 V/v xin ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Công Lợi
Bà Nguyễn Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diệu Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Cẩm Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 27/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXX-ST ngày 03/4/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng P, sinh năm 1977; Trú tại: Thôn 3A, xã Nam P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; Nơi đăng ký HKTT: Thôn 3A, xã Nam P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện trú tại: Số 51/17 Lý P, phường B, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của anh Nguyễn Trọng P và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, vụ án có nội dung: Anh Nguyễn Trọng P và chị Nguyễn Thị N đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm T (nay là xã Nam Phúc T), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh ngày 23/02/2006, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, chị N không chung thủy. Anh và chị N sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Hương G, sinh ngày 25/5/2006 và Nguyễn Trọng H, sinh ngày 08/7/2012. Nguyện vọng của anh Nguyễn Trọng P mong muốn được trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng các con đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị N đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung; không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn chị Nguyễn Thị N: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn chị Nguyễn Thị N để làm việc nhưng bị đơn không có mặt. Sau khi được gia đình thông báo thì chị Nguyễn Thị N đã gửi bản trình bày, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt với nội dung: chị đã biết việc Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng P. Hiện nay chị đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, vì lý do công việc và đi lại khó khăn nên không thể trực tiếp tại Tòa án để làm việc theo triệu tập. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị đồng ý ly hôn với anh P; trong quá trình chung sống, giữa chị và anh P 02 con chung là Nguyễn Thị Hương G, sinh ngày 25/5/2006 và Nguyễn Trọng H, sinh ngày 08/7/2012, chị đồng ý nhường cho anh P trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng các con đến tuổi trưởng thành, chị không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con; trong quá trình chung sống, chị và anh P không tạo lập được tài sản gì chung, vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị Nguyễn Thị N còn đề nghị Tòa án không tiến hành phiên họp tiếp cận, công khai, giao nộp, kiểm tra chứng cứ, hòa giải và các buổi làm việc khác; đề nghị Tòa án giải quyết trong thời gian sớm nhất để chị và anh P sớm ổn định cuộc sống.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa: Về việc tuân theo tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tại phiên tòa các thành viên Hội đồng xét xử có mặt đầy đủ, không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng; Quá trình xét xử đã tuân theo đúng quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm nên không yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng; Tòa án đã tiến hành tống đạt, thu thập tài liệu, chứng cứ đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn là đảm bảo theo quy định tại Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử cho anh Nguyễn Trọng P được ly hôn với chị Nguyễn Thị N; Về con chung: Giao con Nguyễn Thị Hương G, sinh ngày 25/5/2006 và Nguyễn Trọng H, sinh ngày 08/7/2012 cho anh Nguyễn Trọng P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành, chị Nguyễn Thị N không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Trọng P khởi kiện xin ly hôn với chị Nguyễn Thị N, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chị Nguyễn Thị N có nơi đăng ký HKTT: Thôn 3A, xã Nam Phúc T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, từ trước đến nay chưa cắt khẩu, chuyển khẩu đi nơi khác, do công việc nên hiện trú tại số 51/17 Lý P, phường Bình T, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, chị Nguyễn Thị N nhất trí việc Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên giải quyết vụ án nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn đã đề nghị vắng mặt tại các buổi làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ và hỏa giải và đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Trọng P và chị Nguyễn Thị N đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm T (nay là xã Nam Phúc T) ngày 23/02/2006. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, theo anh P nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, chị N không chung thủy. Từ năm 2022 đến nay vợ chồng sống ly thân, không liên lạc với nhau, hai vợ chồng không ai tìm cách hàn gắn tình cảm. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh có nguyện vọng được ly hôn, giải phóng cho hai người để mỗi người có cuộc sống riêng, tốt đẹp hơn.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị N cũng cho rằng vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, không còn tình cảm, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, đời sống chung đã đến mức trầm trọng, chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh P.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng thương yêu, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau… nhưng hôn nhân giữa anh Nguyễn Trọng P và chị Nguyễn Thị N không đạt được mục đích đó, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không ai tìm cách hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Trọng P được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
Về con chung: Anh Nguyễn Trọng P và chị Nguyễn Thị N có hai con chung là Nguyễn Thị Hương G, sinh ngày 25/5/2006 và Nguyễn Trọng H, sinh ngày 08/7/2012. Nguyện vọng của anh Nguyễn Trọng P sau khi ly hôn muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị N đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị N cũng đồng ý nhường quyền nuôi hai con cho anh P. Mặt khác, từ khi vợ chồng ly thân đến nay anh P là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, nay các con đã trên 07 tuổi và có đơn nguyện vọng mong muốn được ở với bố. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con Nguyễn Thị Hương G và Nguyễn Trọng H cho anh Nguyễn Trọng P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị N không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Trọng P, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trọng P được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Giao con Nguyễn Thị Hương G, sinh ngày: 25/5/2006 và con Nguyễn Trọng H, sinh ngày 08/7/2012 cho anh Nguyễn Trọng P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị N không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
2. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Trọng P phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên theo biên lai thu tiền số 0009015 ngày 02/3/2023. Tiền án phí ly hôn sơ thẩm anh Nguyễn Trọng P đã nộp đủ.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Cẩm Xuyên; - Chi cục THADS huyện Cẩm xuyên; - UBND xã Nam Phúc T (Nơi đăng ký kết hôn); - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoàng |