- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị H - Bùi Thanh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Võ Thị H được ly hôn với anh Bùi Thanh T. Quan hệ hôn nhân theo số vào sổ đăng ký kết hôn số 17 ngày 10/4/2008 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17/01/2023 V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Trung
2. Ông Lê Quang Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 483/2022/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 127/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị H, sinh năm 1981 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã Vn, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Bùi Thanh T, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2022, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Võ Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Thanh T cưới nhau vào năm 2007 do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre vào năm 2008. Sau khi cưới hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến cuối năm 2021 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên gây gổ, cự cãi nhau. Chị và anh T hiện nay vẫn còn sống chung nhà nhưng không ai quan tâm ai, tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn lại được với nhau. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với anh Bùi Thanh T
Về con chung: có 01 con chung tên Bùi Thị Huỳnh H, sinh ngày 24/5/2007 hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Bùi Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên anh T vắng mặt không lý do và không có lời trình bày ý kiến.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71; bị đơn chưa chấp hành nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị H đối với anh Bùi Thanh T. Về con chung: Giao con chung tên Bùi Thị Huỳnh H, sinh ngày 24/5/2007 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị H tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nên đề nghị ghi nhận. Tài sản chung, nợ chung: không có nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Võ Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Bùi Thanh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ để xét xử nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ, vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị H và anh Bùi Thanh T cưới nhau vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 10/4/2008 trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021, thì xảy ra mâu thuẫn với nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc do hai bên bất hòa, gây gỗ với nhau. Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã tiến hành hòa giải giữa chị H và anh T nhưng anh T không tham gia hòa giải, thể hiện anh không muốn cứu vãn cuộc hôn nhân giữa anh và chị H. Chị H thì vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với anh T. Qua đó, đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị H và anh T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị H yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị H và anh T có 01 con chung tên Bùi Thị Huỳnh H, sinh ngày 24/5/2007. Từ khi chị H và anh T sống ly thân thì con chung do chị H nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Chị H yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung, hơn nữa cháu H cũng có nguyện vọng được sống với chị H nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, để ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con đây là sự tự nguyện của chị H được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.
Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị H phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 39, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Võ Thị H được ly hôn với anh Bùi Thanh T. Quan hệ hôn nhân theo số vào sổ đăng ký kết hôn số 17 ngày 10/4/2008 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung Bùi Thị Huỳnh H, sinh ngày 24/5/2007 cho chị Võ Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh Bùi Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Chị Võ Thị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0008791 ngày 27/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Ba Tri; - Chi cục THADS huyện Ba Tri; - Các đương sự; - UBND xã V; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Duy Linh |