vanban.org

Bản án 05/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 06/02/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TØnh th¸i nguyªn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06/02/2023
V/ v ly hôn
nh©n danh
NƯíc céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Tßa ¸n nh©n d©n tØnh Th¸i Nguyªn
- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Phương Thúy.
2. Bà Hà Thị Dung.
Th¸i Nguyªn.
Bà Đỗ Thị Thu Thủy – Kiểm sát viên.
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10
năm 2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXX-ST
ngày 19 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị L, sinh năm 1992.
HKTT: Xóm M.T, xã M.L, huyện Đ.H, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Lý Hồng Q, sinh năm 1985.
HKTT: Xóm M.T, xã M.L, huyện Đ.H, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện đang lao động xuất khẩu tại Đài Loan.
(Vắng mặt)
Ngày 06 tháng 02 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên,

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hà Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lý Hồng Q được tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M.L, huyện Đ.H, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam vào tháng 3 năm 2016. Anh chị có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau vui vẻ, hòa thuận. Đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Thời gian đó anh Q có những hành vi cố ý dựng chuyện, lời lẽ không đúng với chị nên vợ chồng thường xuyên tranh cãi, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Mặc dù được hai bên gia đình cố gắng động viên, khuyên nhủ nhưng cả hai cũng không thể tiếp tục chung sống được. Vợ chồng đã sống ly thân 4 năm nay. Chị xác định tình cảm giữa vợ chồng đã không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lý Bảo A, sinh ngày 26/12/2016. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung. Sau này khi anh Q về Việt Nam chị sẽ thỏa thuận lại với anh Q về việc nuôi con để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho cháu. Nếu cháu muốn ở với anh Q chị cũng nhất trí, tôn trọng ý kiến của cháu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc giữa Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên với ông Lý Văn L1 là bố đẻ của anh Lý Hồng Q Địa chỉ: Xóm M.T, xã M.L, huyện Đ.H, tỉnh Thái Nguyên xác định được: Sau khi nhận các văn bản của Toà án, ông có thông tin cho anh Q được biết việc chị L đang yêu cầu xin ly hôn với anh. Tại buổi làm việc ngày 02/12/2022 anh Q có gọi điện trực tiếp về trao đổi lại dưới sự chứng kiến của đại diện thân nhân anh Q, đại diện trưởng xóm M.T với nội dung sau: “Về quan hệ hôn nhân vợ chồng có mâu thuẫn với nhau, hiện không còn quan tâm, liên lạc với nhau. Do vậy chị L có người khác. Nay chị L xin ly hôn anh nhất trí. Về con chung như chị L đã khai là đúng. Hiện cháu đang ở cùng ông bà nội, chị L chỉ thỉnh thoảng gọi điện về cho con, không có trách nhiệm với con nên khi ly hôn anh không đồng ý cho chị Ly nuôi con, xin được nuôi con. Thời gian anh ở nước ngoài con sẽ gửi cho ông bà nội thay anh chăm sóc. Hiện anh đang ở nước ngoài không về nước để giải quyết vụ án được nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại Công văn số 19857/QLXNC-P5 ngày 26/9/2022 của Công An tỉnh Thái Nguyên xác định công dân Lý Hồng Q đã xuất cảnh ngày 09/10/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại. Hội đồng xét xử xác định, đây là vụ án yêu cầu ly hôn có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, theo quy định tại Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Hà Thị L chỉ cung cấp được địa chỉ cư trú cuối cùng của anh Q ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ của anh Q ở nước ngoài. Quá trình giải quyết vụ án, thông qua đại diện thân nhân của anh Q là ông Lý Văn L1, có đủ căn cứ xác định anh Q vẫn liên hệ với ông nhưng ông cũng không cung cấp được địa chỉ của anh Q và anh Q cũng không có lời khai bằng văn bản gửi về cho Toà án. Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng ông L1 cũng vẫn không cung cấp địa chỉ của anh Q ở nước ngoài. Do vậy, căn cứ công văn số 253/TADTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Việc kết hôn giữa chị Hà Thị L và anh Lý Hồng Q trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M.L, huyện Đ.H, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo chị L khai: Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ, hòa thuận. Đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Thời gian đó anh Q có những hành vi cố ý dựng chuyện, lời lẽ không đúng với chị nên vợ chồng thường xuyên tranh cãi, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Mặc dù được hai bên gia đình cố gắng động viên, khuyên nhủ nhưng cả hai cũng không thể tiếp tục chung sống được. Vợ chồng đã sống ly thân 4 năm nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

Phía bị đơn anh Q, mặc dù không có lời khai bằng văn bản gửi về Tòa án nhưng thông qua đại diện thân nhân ở trong nước (bố đẻ anh Q), anh cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn từ trước, không thể hòa giải. Hiện nay hai vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương nhau, chị L xin ly hôn anh nhất trí. Như vậy, có căn cứ cho thấy giữa chị L và anh Q đã không còn tình cảm vợ chồng, sự quan tâm và thương yêu nhau không còn, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, anh chị đều nhất trí xin ly hôn. Hội đồng xét xử thấy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L, cho chị L được ly hôn anh Q là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

Về con chung: Chị L và anh Q có 01 con chung là Lý Bảo A, sinh ngày 26/12/2016, khi ly hôn chị L có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Thông qua đại diện thân nhân của anh Q và tại buổi làm việc ngày 02/12/2022 anh Q cũng trực tiếp thể hiện quan điểm xin được nuôi con chung là cháu A. Tuy nhiên để đảm bảo điều kiện tốt nhất của trẻ khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao con chung là Lý Bảo A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo mọi mặt của con chung khi cha mẹ ly hôn, cũng như quy định của pháp luật tại Điều 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con nên cần tạm hoãn phần nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Q vì chị L không yêu cầu.

Anh Q có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L xác định không có và không yêu cầu giải quyết. Phía anh Q không có lời khai bằng văn bản, thể hiện ý kiến, quan điểm của mình nên Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Các bên đương sự cũng có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có đủ căn cứ và có yêu cầu.

Án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cho chị L được ly hôn với anh Q; Giao cháu Lý Bảo A, sinh ngày 26/12/2016 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q vì chị L không yêu cầu; Tài sản chung và nợ chung không giải quyết. Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, được chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hà Thị L. Chị Hà Thị L được ly hôn với anh Lý Hồng Q.

2. Về con chung: Con chung là Lý Bảo A, sinh ngày 26/12/2016 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Q do chị L không yêu cầu.

Anh Q có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

3. Tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

4. Án phí: Chị Hà Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung quỹ Nhà nước được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000163 ngày 06/10/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Chị L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Q được quyền kháng cáo trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ