vanban.org

Bản án 05/2023/HC-PT — Hành chính

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 30/08/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Về án phí: Bà Khuất Thị L không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0000258 ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường. Án phí hành chính sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện hủy quyết định hành chính và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HC - PT
Ngày 30 - 6 - 2023
“V/v khiếu kiện hủy quyết định
hành chính và bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Mai

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh

Ông Nguyễn Xuân Trọng

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thùy Dương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 và 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2023/TLPT-HC ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc “khiếu kiện hủy quyết định hành chính và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo, kháng nghị theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Bà Khuất Thị L, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân xã V; địa chỉ: Xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Lâm B- Chủ tịch UBND xã.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu K- Phó Chủ tịch UBND xã, (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Cụ Nguyễn Thị C (tức V), sinh năm 1940, (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị C (tức V): Bà Khuất Thị L, sinh năm 1967, (có mặt).

- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964, (vắng mặt).

- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967, (vắng mặt).

- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1988, (vắng mặt).

- Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1992, (vắng mặt).

- Ông Nguyễn Phùng Đ, sinh năm 1957, (có mặt).

- Ông Nguyễn Công Đ2, sinh năm 1949, (có mặt).

Đều ở địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Chị Nguyễn Thị V1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn X, xã V, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Bà Khuất Thị L.

5. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 5 năm 2020 và các lời khai tiếp theo người khởi kiện Bà Khuất Thị L (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị C) trình bày:

Theo chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc chia đất nông nghiệp cho người dân canh tác vào các đợt năm 1988 và năm 1993 trên 05 xứ đồng (Cửa Chùa Ngoài, Cửa Chùa Trong, Gò Yên Định, Gốc Yên Định, Chiềng Đầm). Trong đó, tiêu chuẩn ở Cửa chùa ngoài là: 1.35m x 140m/suất. Gia đình bà có 07 nhân khẩu nhưng vì 01 nhân khẩu sinh năm 1992 (con trai bà) là con thứ ba nên theo chính sách chỉ được chia ½ suất tiêu chuẩn. Do vậy, gia đình bà có tổng tất cả là 6.5 suất tiêu chuẩn. Bố chồng bà - cụ Nguyễn Văn B1 là Liệt sỹ nên hộ gia đình bà còn được chia 01 suất đèn hương cho liệt sỹ có kích thước 0.33m x 140m. Riêng bà và chồng bà là ông T còn được chia 02 suất dân công, tương ứng với 1m x 140m.

Năm 1988, hộ gia đình bà đã có 05 nhân khẩu, gồm: Cụ Nguyễn Thị C (Vụ), bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn T, bà là Khuất Thị L và anh Nguyễn Văn L1, sinh tháng 6/1988. Ông Nguyễn Phùng Đ đã đứng ra chia đất nhưng chia thiếu cho gia đình bà 01 suất tiêu chuẩn ở Cửa chùa ngoài (gia đình bà phải được chia 05 suất ở Cửa chùa ngoài và các thửa ruộng nhưng ông Đ chỉ chia cho gia đình bà có 04 suất ở Cửa Chùa ngoài). Đến đợt chia năm 1993, hộ gia đình bà phải được chia thêm 1.5 suất tiêu chuẩn trên tất cả các thửa ruộng cho con thứ hai và thứ ba của bà nhưng khi đó ông Nguyễn Công Đ2 là người đứng ra chia cũng lại chia thiếu, chỉ chia cho gia đình bà thêm 1.8m x 130m cho 1.5 suất tiêu chuẩn (đúng tiêu chuẩn phải là 2.025m x 140m/1.5 suất) ở gốc Yên Định, còn các xứ đồng khác cũng không chia cho gia đình bà. Ông Đ2 còn tự ý cắt đi 01 suất đất trên tất cả các thửa ruộng của gia đình bà. Theo lời ông Đ2 thì việc cắt đi 01 suất đất là suất của bà M do bà M không ở địa phương.

Năm 1993 chia đất theo Nghị định 64/CP năm 1993, phần ruộng các hộ được chia năm 1988 vẫn giữ nguyên, chỉ chia thêm cho các nhân khẩu mới từ năm 1988 đến năm 1992. Tính đến năm 1992, hộ gia đình bà có thêm 02 nhân khẩu là: Chị Nguyễn Thị V1 (Sinh năm: 1990) và anh Nguyễn Văn L2 (Sinh năm: 1992). Lúc này gia đình bà phải được chia thêm 01 suất của con gái và 1/2 suất của con trai bà (do con thứ 3 chỉ được chia 1/2 suất tiêu chuẩn) trên tất cả các thửa ruộng được sử dụng trong thôn. Như vậy, đến năm 1993, Hộ gia đình bà phải có tất cả là: 6.5 suất đất tiêu chuẩn, 02 suất dân công và 01 suất Liệt sỹ là 033m x 140m. Lúc này, ông Phan Dương Đức là đội trưởng, ông Nguyễn Công Đ2 là đội phó, ông Đ2 là người được bà con giao cho đứng ra chia đất nhưng ông Đ2 cũng làm sai, đúng ra phải chia thêm cho gia đình bà 1.5 suất tiêu chuẩn. Thế nhưng, khi đó ông Đ2 chỉ chia cho gia đình bà phần ruộng là 1.8m x 130m ở Gốc Yên Định, thiếu của gia đình bà rất nhiều đất các xứ đồng còn lại. Thậm chí ông Đ2 còn tự ý cắt đi 01 suất đất tiêu chuẩn của bà M. Trong khi, gia đình ông Đ2 có 9 người con mỗi nguời đều được chia đủ 01 suất đất tiêu chuẩn mà chính sách chung là con thứ ba chỉ được chia 1/2 suất đất tiêu chuẩn, từ con thứ tư trở đi không được chia đất.

Việc chia thiếu đất và tự ý cắt đất của gia đình bà của ông Đ, ông Đ2 khiến nhiều năm qua gia đình bà không có đất để canh tác. Ước tính thiệt hại do hành vi của ông Đ gây ra khoảng 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Việc ông Đ2 tự ý cắt đất của gia đình bà gây ra thiệt hại ước tính là 50.000.000 đông (Năm mươi triệu đồng). Hành vi trái pháp luật của những người này cần phải bị xử lý nghiêm khắc. Đồng thời, chính quyền phải giải quyết chia bổ sung những phần đất còn thiếu cho gia đình bà theo Nghị định 64-CP.

Nay, khi bà có ý kiến về việc ông Đ chia đất thiếu cho gia đình bà, UBND xã V lại trả lời gia đình bà chỉ được chia 04 suất tiêu chuẩn do vào thời điểm chia đất năm 1988, hộ chỉ có 04 nhân khẩu, bà M đi xuất khẩu lao động sang nước ngoài từ năm 1987 thì không được chia đất. Điều này hoàn toàn không có căn cứ, không đúng sự thật. Bởi, năm 1987 bà M vẫn còn ở nhà làm lụng, canh tác cùng gia đình. Mãi đến đầu năm 1989 bà M mới đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài cho đến nay. Hơn nữa, nếu UBND xã V cho rằng gia đình bà khi đó chỉ có 04 nhân khẩu thì tại sao ở các xứ đồng khác vẫn chia đủ 5 suất đất tiêu chuẩn cho gia đình bà, duy chỉ có ở Cửa Chùa Ngoài là chia thiếu 01 suất.

Bà đã có đơn đề nghị UBND xã V giải quyết chia bổ sung 01 suất đất của bà M bị chia thiếu năm 1988 ở Cửa Chùa Ngoài do ông Đ chia thiếu; trả lại cho gia đình bà 01 suất đất tiêu chuẩn của bà M trên tất cả các thửa ruộng do ông Đ2 đã tự cắt của gia đình bà năm 1993. Đồng thời, phải đảm bảo giữ nguyên quyền sử dụng phần đất đèn hương liệt sỹ và 02 suất dân công (140m2) của vợ chồng bà. UBND xã V đã thụ lý giải quyết đơn thư của bà theo thủ tục giải quyết khiếu nại và ra Thông báo về việc trả lời đơn khiếu nại của công dân số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019. UBND xã V cho rằng vào các thời điểm chia đất trước đây, hộ gia đình bà chỉ có 6 nhân khẩu và chỉ được quyền sử dụng 5.5 suất tiêu chuẩn là hoàn toàn sai.

- Chủ trương của Đảng, Nhà nước là dồn thửa đổi ruộng năm 2019 nhưng phải đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã được giao đất, không bổ sung cũng không được cắt bớt đất của người dân. UBND xã V lại cắt đi 01 suất đất thờ cúng liệt sỹ và 02 suất đất dân công của gia đình bà, chỉ ghi nhận gia đình bà có quyền sử dụng 5.5 suất đất tiêu chuẩn. Trong khi đó, Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 11/11/2016 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Kế hoạch số 256/KH-UBND ngày 22/6/2018 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị quyết số 07/NQ-HU ngày 15/12/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Tường và Kế hoạch số 1203/KH-UBND ngày 23/5/2018 của UBND huyện Vĩnh Tường thì nguyên tắc dồn điền đổi thửa phải đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã được giao theo Nghị định 64/CP của Chính phủ và Quyết định số 450/QĐ-UB ngày 19/5/1992, Quyết định số 159/QĐ-UB ngày 08/02/1994 của UBND tỉnh Vĩnh Phú (cũ), không để xảy ra các sai phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai tại địa phương khi thực hiện dồn thửa đổi ruộng. Vậy mà, UBND xã V lại cố tình không ghi nhận phần quyền sử dụng đất này cho gia đình bà, xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của hộ gia đình bà.

Nay bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy Thông báo về việc trả lời đơn khiếu nại công dân số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 của UBND xã V.

- Buộc UBND xã V chia bổ sung cho gia đình bà 01 suất đất tiêu chuẩn ở Cửa Chùa Ngoài bị thiếu đợt chia đất năm 1988;

- Buộc UBND xã V trả lại cho gia đình bà L 01 suất đất đèn hương Liệt Sỹ (0,33m x 140m);

- Buộc UBND xã V trả lại 02 suất đất dân công cho vợ chồng bà;

- Đề nghị UBND xã V trả lại cho bà M 01 suất đất tiêu chuẩn từ năm 1993 trên tất cả các xứ đồng là: Xứ đồng Cửa Chùa Ngoài, Cửa Chùa Trong, Gò Yên Định, Gốc Yên Định.

- Xử lý hành vi trái pháp luật của ông Nguyễn Phùng Đ, ông Nguyễn Công Đ2.

- Buộc UBND xã V phải bồi thường cho gia đình bà tiền công đi lại khiếu nại, khiếu kiện từ năm 2018 đến nay là 30.000.000đ.

- Buộc ông Đ phải bồi thường cho gia đình bà số tiền 30.000.000đ do đã chia thiếu 01 suất đất ở Cửa Chùa ngoài, gây thiệt hại cho gia đình bà.

- Buộc ông Đ2 phải bồi thường cho gia đình bà 50.000.000đ thiệt hại do ông Đ2 đã tự ý cắt 01 suất đất tiêu chuẩn của bà M trên tất cả các xứ đồng bao năm qua.

Người bị kiện là Ủy ban nhân dân xã V do đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hữu K- Phó Chủ tịch UBND xã trình bày:

Thời điểm năm 1988, hộ gia đình bà Nguyễn Thị V gồm 04 khẩu được bàn giao từ Hợp tác xã nông nghiệp Xuân Chiểu, do ông Phùng Văn Tĩnh làm Chủ nhiệm Hợp tác xã X bàn giao, gồm có các khẩu: Bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn T, Bà Khuất Thị L và anh Nguyễn Văn L1.

Trước năm 1987, theo chủ trương hợp nhất của Hợp tác xã, xóm 7 thôn H được sát nhập vào Hợp tác xã X (cả người và đất), sau đó các hợp tác xã hoạt động không hiệu quả, thì xóm 7 (trong đó có cả gia đình bà Vụ- Lý) được trả về hợp tác xã H. Hợp tác xã H không nhận cả người và đất vì lý do Hợp tác xã H đã giao đất cho các hộ sản xuất nông nghiệp ổn định. Sau đó đến năm 1989, xóm 7 được UBND xã V chỉ đạo giao cho ông Nguyễn Văn Quỳnh lúc đó là Đảng viên ở xóm 7 họp xóm và thống nhất cử đội trưởng, đội phó đứng ra họp xóm và chia đất cho 31 hộ thuộc xóm 7, thôn H cho kịp thời vụ sản xuất của năm đó. Xóm 7 thống nhất bầu ông Nguyễn Văn H làm đội trưởng, ông Nguyễn Phùng Đ là thư ký (kiêm đội phó) chỉ đạo trực tiếp là ông Nguyễn Văn Quỳnh. Trước khi giao đất của từng vùng, thì tổ có cử 1 nhóm đi khảo sát lại diện tích đất của từng vùng, sau đó về lên phương án chia. Trước khi chia đã họp xóm thông báo nội dung và số lượng đất được chia của từng hộ và bốc thăm. Tất cả các hộ trong xóm đều nhất trí, không thắc mắc gì. Riêng vùng đất Cửa Chùa Ngoài, năm 1989 chia theo Quyết định số 450 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc.

Cụ thể đối với hộ bà Nguyễn Thị V được chia 04 khẩu = 4m ngang x 145m dài = 580m2/ 4 khẩu.

Đất rau xanh bằng 1,32m ngang x 145m dài = 191,4m = 47,85m2/1 người (đất 10 % đất rau xanh); Đất thờ cúng liệt sỹ 0,33m ngang x 145m dài = 48m2; Đất dân công được chia 2 suất =1m ngang x145m dài = 145m2.

Tổng hộ bà Nguyễn Thị V được chia ở xứ đồng Cửa Chùa Ngoài theo chiều ngang là 6,65m ngang x145m dài = 964m2.

Tại thời điểm chia đất năm 1989, bà Nguyễn Thị M không có mặt ở địa phương, bà M đi xuất khẩu lao động ở Đức. Năm 1989, theo bàn giao của Hợp tác xã X cho đội 7 thì chia đất cho các nhân khẩu có mặt tại địa phương, còn các nhân khẩu không có mặt tại địa phương thời điểm đó thì không được chia. Đến năm 1990, đội họp thống nhất chia lại đất theo khẩu hiện có của năm 1990. Riêng vùng đất Cửa Chùa Ngoài là đất loại 1 (đất tốt) đội giữ nguyên không chia, những khẩu biến động được chia ở vùng khác theo diện tích bình quân của đội nên khẩu Cửa Chùa Ngoài vẫn giữ nguyên đến năm 2019. Đến thời điểm chia đất năm 1992 theo Nghị định 64, thì hộ bà Nguyễn Thị V được bổ sung 1,5 khẩu gồm: Khẩu của Nguyễn Thị V1, sinh năm 1990 và ½ khẩu của Nguyễn Văn L2, sinh năm 1992 (Lộc là con thứ 3 thì được ½ khẩu). Đối với khu Cửa Chùa Ngoài thì hộ bà Nguyễn Thị V vẫn giữ nguyên diện tích được chia là 6,65m ngang và 02 suất dân công theo Biên bản bàn giao ngày 29/6/1992 giữa người bàn giao là ông Nguyễn Phùng P (thư ký) bàn giao cho ông Phan Dương Đ3

Năm 1992, khi chia đất theo Nghị định 64, hộ bà Nguyễn Thị V được 5,5 khẩu đất và thống nhất của tổ là cắt bỏ phần đất dân công của tất cả các hộ trong xóm trong đó có cả 02 suất dân công của hộ bà Nguyễn Thị V. Chỉ để lại phần đất liệt sỹ và duy trì cho đến nay là mỗi một liệt sỹ được 48m2 đất thờ cúng. Như vậy là đất dân công không còn tồn tại.

Thời điểm năm 2018 khi có chủ trương dồn thửa đổi ruộng của UBND tỉnh Vĩnh Phúc, UBND xã V tiến hành thành lập Ban chỉ đạo, Ban quản lý và tiểu ban dồn thửa đổi ruộng thôn H, tiến hành họp nhân dân theo các bước hướng dẫn. Quá trình thực hiện, hộ bà L đề nghị tiểu ban dồn thửa đổi ruộng xác minh diện tích của hộ gia đình bà trước khi dồn thửa đổi ruộng. Tiểu ban dồn thửa đổi ruộng thôn H đã thực hiện theo đề nghị của bà L và đã có biên bản làm việc, xác minh các thửa đất ở các xứ đồng hộ bà Nguyễn Thị V canh tác từ năm 1992 đến thời điểm thực hiện chủ trương dồn thửa đổi ruộng. Khi kiểm tra xong, đối chiếu với số khẩu được chia theo sổ cũ thì bà L phát hiện hộ gia đình bà Vụ thừa đất, bà L cho rằng khi cán bộ đội 7 chia đất là không vào sổ. Khi tiểu ban dồn thửa đổi ruộng đội 7 làm rõ thì Bà Khuất Thị L lại đề nghị là hộ bà Vụ bị thiếu một suất đất của Nguyễn Thị V1. Tiểu ban dồn thửa đổi ruộng đã có báo cáo UBND xã, đề nghị UBND xã cung cấp nhân khẩu của hộ bà Nguyễn Thị V thời điểm giao đất thực hiện Nghị định 64. Tiểu ban dồn thửa đổi ruộng đã làm việc và thông báo với gia đình bà L nhưng bà L không Đ2 ý và tiếp tục đề nghị lên UBND xã. UBND xã đã xác minh và có thông báo trả lời bà L. Đối với Thông báo về việc trả lời đơn khiếu nại số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 thì UBND xã có ý kiến như sau:

Thực hiện chỉ thị số 11/CT-UT ngày 11/11/2016 của Ban Thường vụ tỉnh ủy Vĩnh Phúc về tiếp tục thực hiện công tác dồn thửa đổi ruộng trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; Nghị quyết số 07-NQ/HU ngày 15/12/2016 về dồn thửa đổi ruộng giai đoạn 2016- 2020; Kế hoạch số 1203/KH-UBND ngày 23/5/2018 của UBND huyện Vĩnh Tường về triển khai công tác dồn thửa đổi ruộng.

Ngày 28/5/2018, Ban chấp hành Đảng bộ xã Vĩnh Ninh ra Nghị quyết số 06-NQ/ĐU về công tác dồn thửa đổi ruộng trên địa bàn xã Vĩnh Ninh. Nghị quyết hội nghị họp dân toàn thôn H ngày 15/11/2018. Thôn H có 04 xóm dân cư, có 31 hộ thuộc xóm 1 (Đội 7 cũ) do đặc thù khi thực hiện Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ không Đ2 nhất diện tích xứ đồng chung của thôn H nên Tiểu ban dồn thửa đổi ruộng thôn H đã đề nghị Ban chỉ đạo, Ban quản lý DTĐR cho 31 hộ thuộc xóm 1 thực hiện xong công tác dồn thửa đổi ruộng thì thực hiện toàn thôn. Hiện toàn thôn H đang thực hiện bước 6 DTĐR; 31 hộ Đội 7 đã thực hiện xong bước 8. Tính đến ngày 31/12/2019 tại Đội 7 thôn H đã có 30/31 hộ nhận ruộng và tiến hành canh tác. Hiện còn hộ bà Nguyễn Thị V (mẹ chồng Bà Khuất Thị L) chưa nhất trí bàn giao ruộng, có đơn gửi các cấp đề nghị bổ sung cho gia đình thêm 01 khẩu đất do Đội trưởng, Đội phó của xóm chia thiếu từ khi thực hiện Nghị định 64-CP năm 1993 của Chính phủ.

Ngày 15/7/2019, UBND xã nhận được đơn đề nghị của Bà Khuất Thị L nội dung đề nghị UBND xã xác minh làm rõ diện tích của hộ ông Nguyễn Công Đ2 trú tại Đội 7 thôn H khi được chia theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ (do nghi ngờ ông Đ2 lợi dụng lúc đó làm Đội phó Đội 7 thôn H cũ chia thêm khẩu đất cho gia đình ông và chia thiếu 01 khẩu đất hộ nhà bà Nguyễn Thị V trú Đội 7 thôn H, là mẹ chồng của Khuất Thị L); làm rõ việc gia đình bị chia thiếu khẩu đất vào năm 1993.

Uỷ ban nhân dân xã tiến hành thụ lý giải quyết theo thẩm quyền, cụ thể:

+ Ngày 29/7/2019, UBND xã đã có thông báo số 34/TB-UBND về việc thông báo trả lời đơn của công dân.

+ Ngày 12/10/2019, UBND xã nhận được văn bản số 2511/UBND-BTCD ngày 04/10/2019 của UBND huyện Vĩnh Tường v/v chuyển đơn của Bà Khuất Thị L sau khi nghiên cứu nội dung đơn UBND xã tiếp tục thụ lý và có thông báo số 52/TB-UBND ngày 15/10/2019 nội dung: Thời điểm chia đất theo Nghị định 64- CP gia đình Bà Khuất Thị L đã được chia đủ số đất là 5,5 khẩu đất; tại thời điểm chia đất bà Nguyễn Thị M (con bà Nguyễn Thị V) không còn hộ khẩu thường trú tại địa phương do đã xuất cảnh đi nước ngoài vào năm 1987 chưa trở về địa phương (trong sổ quản lý nhân hộ khẩu của Công an xã Vĩnh Ninh từ năm 1987 trường hợp Nguyễn Thị M đã không có tên, không có hộ khẩu thường trú tại địa phương). Bà L không Đ2 ý với nội dung trả lời tại Thông báo số 52/TB-UBND ngày 15/10/2019 và tiếp tục có đơn khiếu nại. Ngày 19/11/2019, UBND xã V ra Thông báo số 61/TB-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà L. Sau khi ban hành Thông báo số 61 thì UBND xã thấy rằng việc ban hành Thông báo số 61 chưa đúng theo trình tự giải quyết khiếu nại, nên UBND xã ban hành Quyết định số 01/QĐ-CT ngày 19/11/2019 về việc giải quyết khiếu nại của bà L. Do sơ suất, UBND xã V chưa thu hồi và hủy bỏ Thông báo số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019. Ngày 27/3/2023, UBND xã V đã ra Quyết định số 51/QĐ-CT về việc thu hồi, hủy bỏ Thông báo số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019.

Nay Bà Khuất Thị L khởi kiện với các nội dung như nêu trên, quan điểm của Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Ninh không Đ2 ý với yêu cầu khởi kiện của bà L và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Nguyễn Phùng Đ trình bày: Ngày 10/9/1988, Uỷ ban nhân dân huyện Vĩnh Lạc do ông Nguyễn Đình Đá ký quyết định cho tách 19 hộ dân thôn H sáp nhập vào Hợp tác xã X. Sau khi hoàn tất việc kiểm đếm, khi bàn giao Hợp tác xã H từ chối nhận bàn giao 19 hộ (đội 7) và tài sản. Cuối năm 1988, Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Ninh giao cho ông Q là Đảng viên trong xóm 7 đương nhiệm là Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã X cũ về họp xóm và tạm chia đất cho bà con trong xóm lấy đất sản xuất kịp thời vụ. Ông Q đã tổ chức họp xóm với nội dung cụ thể như sau:

+ Thông báo nội dung chưa chuyển về Hợp tác xã H được

+ Thông báo tổng số tài sản được phân chia gồm tài sản và đất canh tác

+ Thông báo số hộ và số khẩu được bàn giao lúc chưa tách

+ Bầu đội trưởng và thư ký để chia đất.

Sau khi hội nghị nghe ông Q phổ biến các nội dung, xã đội nhất trí với nội dung trên và bầu ông Nguyễn Văn H làm đội trưởng, ông Nguyễn Phùng Đ làm thư ký. Sau đó, đội đã cử 02 người đi đo lại toàn bộ diện tích đất đã bàn giao để lên kế hoạch chia. Sau khi đo xong thì họp lại xóm để lên kế hoạch chia và cho nhúp phiếu thứ tự.

Nội dung được chia vùng Cửa Chùa Ngoài như sau: Vùng đất Cửa Chùa Ngoài chiều dài đầu ngoài 229,5m; đầu trong = 219,5m; chiều rộng 148m.

Sau khi chia trên sổ sách xong thì tiến hành họp xóm lần 2 để thông báo cho các hộ dân các nội dung:

Tổng số khẩu được chia là 151 khẩu bao gồm cả khẩu mới sinh.

- Chia đất 5% cho mỗi khẩu được chia = 47,85m2/1 người = 0,33 ngang.

- Chia 5% cho liệt sỹ được chia = 48m2 = 0,33 ngang.

- Chia đất cho khẩu phải chịu dân công =72,5m2/1suất=0,5m ngang/1suất.

- Chia bình quân cho 01 khẩu = 145m2 = 1,0 ngang.

Thu hồi đất 5% các hộ đổi đất 5% làm đất ở, mỗi hộ là 4 suất đất 5% vùng đất Cửa Chùa Ngoài. Do địa lý hai đầu không bằng nhau, nên đội 7 đã chia bình quân một đầu còn lệch đầu ngoài 12,2m; đầu trong 0,0m (số đất này sau chia cho hai hộ đang chuẩn bị sinh con).

Thời điểm chia đất vùng Cửa Chùa Ngoài tháng 01/1989 hộ bà Nguyễn Thị V chủ hộ có những khẩu sau:

1, Bà Nguyễn Thị Châm (Vụ), sinh năm 1942

2, Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 (con trai bà Vụ);

3, Chị Khuất Thị L, sinh năm 1967 (con dâu bà Vụ);

4, Cháu Nguyễn Văn L1, sinh năm 1988 (cháu bà Vụ).

Tổng số khẩu bà Vụ là 04 người.

Tổng số đất Cửa Chùa Ngoài được chia cho hộ bà Vụ như sau:

+ Đất bình quân khẩu: 1m x 4 khẩu = 4m = 576m2

+ Đất 5%: 0,33m x 4 khẩu = 1,32m = 145m2

+ Đất 5% liệt sỹ: 0,33m x 1 = 0,33m = 47,85m2

+ Đất dân công: 0,50 x 2 = 1,000m = 145m2

+ Cộng: 6,65m = 964m2

Số đất này thống nhất của đội được giữ nguyên, không thay đổi, theo dõi cho đến năm 2018 vẫn giữ nguyên, không có sự thay đổi. Còn nếu tăng giảm thì chuyển vùng khác. Năm 2018, có kế hoạch dồn điền đổi thửa. Khi làm thủ tục, hộ bà L gây cản trở cho tập thể thôn H, xã Vĩnh Ninh vì lý do một số diện tích đất của hộ bà L đã chuyển nhượng cho người khác. Nếu hộ bà L thiếu đất thì tại sao bà L không kêu thiếu từ những năm chia đất mà vẫn sản xuất sau 29 năm kể từ khi được chia từ năm 1989 đến năm 2018. Bản thân ông cùng các thế hệ đội đã làm đúng chức năng, nhiệm vụ dưới sự giám sát của tổ đảng và toàn bộ bà con trong đội. Đến nay, công việc dồn điền đổi thửa đã xong chỉ còn hộ bà L vẫn chống đối, không giao đất cho tập thể. Ông đã được giao nhiệm vụ giữ chức thư ký từ tháng 9/1988 đến tháng 5/1989, ông xin nghỉ chuyển giao cho ông Nguyễn Phùng Phú làm thư ký thay ông.

Nay bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung như nêu trên, quan điểm của ông không Đ2 ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Công Đ2 trình bày: Năm 1993, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phú cân đối lại đất. Từ năm 1988 đến năm 1993, mỗi cặp vợ chồng đẻ 02 con thì được chia 100% đất. Từ con thứ 3 trở đi được chia 50%. Thời điểm năm 1993, gia đình bà Vụ có 5,5 nhân khẩu. Khi đó, ông Đ2 là đội phó và là thư ký, ông Phan Dương Đức là đội trưởng, đã tổ chức họp để chia đất theo chỉ thị 1993 của tỉnh Vĩnh Phú. Nhưng tổ chức không tin tưởng ông và ông Đ3 đứng ra chia nên đã cử ông Nguyễn Văn Đ4 và ông Nguyễn Văn H đứng ra chia cho công bằng. Trước đó ông Phú bàn giao sổ sách cho ông và ông đã giao lại sổ sách cho ông H và ông Đ4. Ông và ông Đ3 cũng đi nhận đất và hộ nào thắc mắc thì giải quyết. Trong khi đó, hai trường hợp thiếu đất trên thửa cao phải chia bù dưới thấp được tính 01 thước bằng 02 thước. Sau khi chia, số đất của ông Đ4 và ông H trả cho Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Ninh, cùng sổ sách chia đất nói trên. Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Ninh chuyển đội 7 về Hợp tác xã H. Từ đó, ông không rõ sổ sách của Hợp tác xã H như thế nào. Từ năm 1993 trở về trước, người đã mất không được chia đất cũng không phải cắt đất. Năm 1993, ông, ông Đ3 và ông Phú không thấy hộ bà Vụ có bà M. Ông nghe nói bà M đã đi Đức.

Nay Bà Khuất Thị L khởi kiện với các nội dung như trên, quan điểm của ông không nhất trí vì ông không phải là người đứng ra chia đất cho các hộ dân. Ông Đ nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Văn T xác nhận như trình bày của Bà Khuất Thị L.

Đối với bà Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Văn L1, anh Nguyễn Văn L2, chị Nguyễn Thị V1, Tòa án không lấy được lời khai do không có mặt theo giấy triệu tập.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 29 tháng 03 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường quyết định: Căn cứ Điều 193, Điều 348 Luật tố tụng hành chính; Luật khiếu nại năm 2011; Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Khuất Thị L về việc “Khiếu kiện yêu cầu hủy Thông báo về việc trả lời đơn khiếu nại công dân”.

Hủy Thông báo về việc trả lời đơn khiếu nại công dân số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 của UBND xã V.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về việc buộc UBND xã V phải bồi thường cho gia đình bà tiền công đi lại khiếu nại, khiếu kiện từ năm 2018 đến nay là 30.000.000đ.

Ngoài ra bản án còn quyết định về quyền kháng cáo và án phí đối với các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023 Bà Khuất Thị L kháng cáo không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc sửa một phần Bản án sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ban hành kháng nghị số 100/QĐ - VKS - HC đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết lại vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm người khởi kiện có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án cấp phúc thẩm đã tuân thủ đảm bảo đúng trình tự, thủ tục từ khi thụ lý đến tại phiên tòa phúc thẩm; người tham gia tố tụng đã thực hiên đầy đủ và chấp hành đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 241 Luật tố tụng hành chính chấp nhận kháng nghị hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết lại vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ được thẩm tra công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về đối tượng khởi kiện vụ án hành chính:

Bà L khởi kiện nhiều nội dung và đề nghị Tòa án xem xét. Tuy nhiên chỉ có yêu cầu về việc Hủy Thông báo về việc trả lời đơn khiếu nại công dân số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 của UBND xã V là quyết định hành chính theo khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính và yêu cầu buộc UBND xã V phải bồi thường cho gia đình bà tiền công đi lại khiếu nại, khiếu kiện từ năm 2018 đến nay là 30.000.000đ theo khoản 1 Điều 7 Luật tố tụng hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện như trên thuộc thẩm quyền của Tòa án; Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 30, 31 Luật tố tụng hành chính.

Các yêu cầu: Buộc UBND xã V chia bổ sung cho gia đình bà 01 suất đất tiêu chuẩn ở Cửa Chùa ngoài bị thiếu đợt chia đất năm 1988; Buộc UBND xã V trả lại cho gia đình bà L 01 suất đất đèn hương Liệt Sỹ (0,33m x 140m); Buộc UBND xã V trả lại 02 suất đất dân công cho vợ chồng bà; Đề nghị UBND xã V trả lại cho bà M 01 suất đất tiêu chuẩn từ năm 1993 trên tất cả các xứ đồng là: Xứ đồng Cửa Chùa Ngoài, Cửa Chùa Trong, Gò Yên Định, Gốc Yên Định; Buộc ông Đ phải bồi thường cho gia đình bà L số tiền 30.000.000đ do đã chia thiếu 01 suất đất ở Cửa Chùa ngoài, gây thiệt hại cho gia đình bà; Buộc ông Đ2 phải bồi thường cho gia đình bà L 50.000.000đ thiệt hại do ông Đ2 đã tự ý cắt 01 suất đất tiêu chuẩn của bà M trên tất cả các xứ đồng. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xác định không phải đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đúng.

Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 19/11/2019 Chủ tịch UBND xã V ban hành Thông báo số 61/TB-UBND và gửi cho Bà Khuất Thị L. Ngày 06/5/2020 bà L làm đơn khởi kiện là đảm bảo thời hiệu khởi kiện 01 năm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Về đơn kháng cáo và kháng nghị: Kháng cáo của Bà Khuất Thị L và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc làm trong hạn luật định hợp lệ cần chấp nhận.

Về nội dung:

Xét kháng cáo của người khởi kiện và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh thấy rằng:

Ngày 15/7/2019, UBND xã nhận được đơn đề nghị của Bà Khuất Thị L nội dung đề nghị UBND xã xác minh làm rõ diện tích của hộ ông Nguyễn Công Đ2 trú tại Đội 7 thôn H khi được chia theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ (do nghi ngờ ông Đ2 lợi dụng lúc đó làm Đội phó Đội 7 thôn H cũ chia thêm khẩu đất cho gia đình ông và chia thiếu 01 khẩu đất hộ nhà bà Nguyễn Thị V trú Đội 7 thôn H, là mẹ chồng của Khuất Thị L); làm rõ việc gia đình bị chia thiếu khẩu đất vào năm 1993.

Ngày 29/7/2019, UBND xã đã có Thông báo số 34/TB-UBND về việc thông báo trả lời đơn của bà L.

Ngày 12/10/2019, UBND xã V nhận được Văn bản số 2511/UBND-BTCD ngày 04/10/2019 của UBND huyện Vĩnh Tường về việc chuyển đơn của Bà Khuất Thị L ghi ngày 16/9/2019 (cùng nội dung đơn của bà L gửi UBND xã ngày 15/7/2019 nêu trên).

Ngày 15/10/2019, UBND xã V ra Thông báo số 52/TB-UBND trả lời đơn đề nghị của bà L. Nội dung: Thời điểm chia đất theo Nghị định 64- CP gia đình Bà Khuất Thị L đã được chia đủ số đất là 5,5 khẩu đất; tại thời điểm chia đất bà Nguyễn Thị M (con bà Nguyễn Thị V) không còn hộ khẩu thường trú tại địa phương do đã xuất cảnh đi nước ngoài vào năm 1987 chưa trở về địa phương (trong sổ quản lý nhân hộ khẩu của Công an xã Vĩnh Ninh từ năm 1987 trường hợp Nguyễn Thị M đã không có tên, không có hộ khẩu thường trú tại địa phương). Bà L không Đ2 ý với nội dung trả lời tại Thông báo số 52/TB-UBND ngày 15/10/2019 của UBND xã V.

Ngày 17/10/2019 bà L có đơn khiếu nại đối với Thông báo số 52 nêu trên.

Ngày 19/11/2019, UBND xã V ra Thông báo số 61/TB-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà L. Nội dung tương tự như thông báo số 52.

Sau khi ban hành Thông báo này, UBND xã thấy việc ban hành thông báo về việc trả lời đơn khiếu nại là chưa đúng về hình thức, thẩm quyền nên đã ban hành Quyết định 01/QĐ-CT ngày 19/11/2019 về việc giải quyết khiếu nại của Bà Khuất Thị L (nội dung tương tự như thông báo số 61) nhưng chưa ra quyết định thu hồi hoặc hủy bỏ Thông báo số 61/TB-UBND nêu trên.

Đến ngày 27/3/2023 (trước ngày xét xử sơ thẩm) Chủ tịch UBND xã V đã ra Quyết định số 51/QĐ-CT về việc thu hồi, hủy bỏ Thông báo số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 của UBND xã V.

Trên cơ sở các tài liệu như trên cần thấy rằng:

Về tư cách tố tụng: Cấp sơ thẩm xác định người bị kiện là UBND xã V là chưa đầy đủ và chính xác vì: Thông báo về việc trả lời đơn khiếu nại công dân số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 do ông Nguyễn Hữu Q1 - Chủ tịch UBND xã thay mặt UBND xã V ký ban hành thực chất là Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, thẩm quyền ban hành Quyết định phải là Chủ tịch UBND xã theo quy định tại Khoản 4 Điều 36 Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Điều 17 Luật khiếu nại năm 2011, không phải là UBND xã. Do đó người bị kiện đối với Quyết định hành chính phải là Chủ tịch UBND xã V. Về yêu cầu bồi thường của bà L: Đây là là yêu cầu bồi thường Nhà nước được Tòa án xem xét theo Điều 7 Luật tố tụng hành chính nên người bị kiện là UBND xã V. Vì vậy trong vụ án này người bị kiện là Chủ tịch UBND xã V và UBND xã V nhưng cấp sơ thẩm chỉ xác định UBND xã V là không đúng, sai sót của cấp sơ thẩm là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Về thu thập tài liệu chứng cứ: Đối tượng khởi kiện trong vụ án là Thông báo số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 về việc trả lời đơn khiếu nại công dân. Quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện đã cung cấp cho Tòa án một số văn bản trả lời đơn của Bà Khuất Thị L là: Thông báo số 34/TB-UBND ngày 29/7/2019; Thông báo số 52/ TB-UBND ngày 15/10/2019; Quyết định số 01/QĐ-CT ngày 19/11/2019 về việc giải quyết khiếu nại của Bà Khuất Thị L (lần đầu) có cùng nội dung trả lời đơn khiếu nại của Bà Khuất Thị L như Thông báo số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 về việc trả lời đơn khiếu nại công dân.

Theo trình bày của phía người bị kiện sau khi UBND xã V ban hành Thông báo số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 về việc trả lời đơn khiếu nại công dân thì phát hiện không đúng trình tự thủ tục, thẩm quyền nên tiếp tục ban hành Quyết định số 01/QĐ-CT ngày 19/11/2019 về việc giải quyết khiếu nại của Bà Khuất Thị L (lần đầu), cả hai văn bản trên đều giống nhau về nội dung trả lời khiếu nại.

Tuy nhiên quá trình giải quyết Thẩm phán chưa yêu cầu người bị kiện cung cấp hồ sơ giải quyết đơn khiếu nại của Bà Khuất Thị L khiếu nại Thông báo số 52/TB-UBND của UBND xã V; chưa làm rõ thời gian ban hành Quyết định số 01/QĐ-CT ngày 19/11/2019 về việc giải quyết khiếu nại của Bà Khuất Thị L (lần đầu), cũng như thời gian giao Quyết định giải quyết khiếu nại này cho bà L và ý kiến của bà L đối với Quyết định giải quyết khiếu nại nêu trên.

Việc thu thập chứng cứ như trên là chưa đầy đủ dẫn đến việc đánh giá chứng cứ và xem xét yêu cầu khởi kiện chưa chính xác.

Về việc xem xét tính hợp pháp và có căn cứ của các quyết định liên quan:

Khoản 1 Điều 6 Luật Tố tụng hành chính. Điều luật quy định: “1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án có quyền xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện ... " Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm chưa xem xét tính hợp pháp và có căn cứ của các văn bản hành chính có liên quan là: Thông báo số 34/TB-UBND ngày 29/7/2019; Thông báo số 52/ TB-UBND ngày 15/10/2019; Quyết định số 01/QĐ-CT ngày 19/11/2019 về việc giải quyết khiếu nại của Bà Khuất Thị L; Quyết định số 51/QĐ-CT ngày 27/3/2023 của Chu tịch Ủy ban nhân dân xã V về việc thu hồi, hủy bỏ Thông báo về việc trả lời đơn khiếu nại công dân số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 của UBND xã V.

Việc Hội đồng xét xử chỉ xem xét tính hợp pháp của Thông báo số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 của UBND xã V rồi nhận định “mặc dù Quyết định số 51/QĐ-CT được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hình thức văn bản, nhưng bà L không Đ2 ý với kết quả tự hủy Thông báo số 61 của UBND xã V, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, hơn nữa UBND xã V ban hành Quyết định số 51/QĐ-CT ngày 27/3/2023 sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án " và hủy Thông báo về việc trả lời đơn công dân số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 của UBND xã V, buộc UBND xã V phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm là chưa có căn cứ vững chắc, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của UBND xã V.

Ngoài ra cấp sơ thẩm còn có sai sót Biên bản phiên tòa ghi không chính xác, không phản ánh đúng diễn biển phiên tòa dẫn đến nhận định đánh giá trong bản án không khách quan. Cụ thể: Ngày 27/3/2023, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện giao nộp cho Tòa án sơ thẩm Quyết định số 51/QĐ-CT ngày 27/3/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V về việc thu hồi, hủy bỏ Thông báo về việc trả lời đơn khiếu nại công dân số 61/TB-UBND ngày 19/11/2019 của UBND xã V. Tuy nhiên, tại biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 16/3/2023 (Bút lục 583- 587) thể hiện chủ tọa phiên tòa đã hỏi bà L về Quyết định số 51/QĐ-CT ngày 27/3/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V.

Như vậy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh là có căn cứ cần chấp nhận. Các sai sót của cấp sơ thẩm là không thể khắc phục được cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung. Những nội dung như trong đơn khởi kiện và đơn kháng cáo của bà L sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi giải quyết lại vụ án đối với các nội dung thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bà L không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm được hoàn trả lại. Tạm ứng án phí sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Hủy bản án sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết lại vụ án.

2. Về án phí: Bà Khuất Thị L không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0000258 ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường. Án phí hành chính sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ