vanban.org

Bản án 05/2022/LĐ-PT — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/10/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

3 Điều 308, Điều 310

1/. Hủy Bản án lao động sơ thẩm số 1563/2020/LĐ-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung. 2/. Về án phí lao động sơ thẩm và án phí lao động phúc thẩm: Bà Phạm Thị Hồng H không ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Phạm Thị Hồng H kiện Văn phòng đại diện B"
  • Tòa quyết gì? 3 Điều 308, Điều 310
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/LĐ-PT
Ngày 26 - 10 - 2022
V/v Đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Văn

Ông Phạm Công Mười

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số: 03/2021/TLPT-LĐ ngày 18 tháng 01 năm 2021 về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 1563/2020/LĐ-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2002/2022/QĐ-PT ngày 26 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng H, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Đường số 27, Khu phố 9, phường H, thành phố Th, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Đình Công V; Nơi cư trú: đường B, Phường 14, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 020606 ngày 10/11/2014 do Văn phòng Công chứng T chứng nhận; có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Quốc Ph - Công ty Luật TNHH Một thành viên H, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

- Bị đơn: Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Đường Ng, Phường 15, quận Ph, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty B PTE.LTD. (199705854N); Địa chỉ: M, A, Singapore (138565).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Kiều Anh V, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Đường Ng1, Phường 01, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền của Công ty B Pte.Ltd ngày 20/7/2020 đã được hợp pháp hóa lãnh sự và Giấy ủy quyền ngày 22/6/2016 của Công ty B Singapore Pte.Ltd; có mặt).

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 30/9/2008, bà H ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Văn phòng đại diện K Singapore Pte (tên mới là Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh), chức vụ là nhân viên kinh doanh. Thực hiện hợp đồng lao động bà H luôn thực hiện tốt công việc được giao.

Ngày 04/01/2011, bà H đột xuất nhận được quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động không ghi rõ lý do mà chỉ căn cứ Điều 38 Bộ luật lao động của Trưởng Văn phòng đại diện ghi ngày 30/12/2010, quyết định có hiệu lực từ ngày ký, trong khi đó thời gian hoạt động của Văn phòng đại diện là đến hết ngày 09/9/2013.

Nay bà H là nguyên đơn khởi kiện và có người đại diện theo ủy quyền yêu cầu Tòa án xác định bị đơn là Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà Phạm Thị Hồng H trái pháp luật từ ngày 01/01/2011. Do đó, bị đơn phải bồi thường cho bà H khoản tiền tương ứng với tiền lương, phụ cấp trong những ngày bà H không được làm việc từ ngày 01/01/2011 đến ngày 09/9/2013 số tiền là 34.086 USD tương đương 684.446.880 đồng; đồng thời bị đơn phải bồi thường ít nhất hai tháng tiền lương là 35.099.840 đồng. Tổng cộng bị đơn phải bồi thường cho bà H số tiền là 719.546.720 đồng. Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Do Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh đang làm thủ tục đóng cửa, chấm dứt hoạt động nên nguyên đơn không còn yêu cầu hủy quyết định chấm dứt hợp đồng lao động như đơn khởi kiện của nguyên đơn đã nộp ngày 11/01/2011.

Bị đơn là Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh không có người đại diện hợp pháp để tham gia tố tụng tại Tòa án và tham gia phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến nay nên không có trình bày và ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty B Singapore Pte.Ltd có trụ sở tại Cộng hòa Singapore là công ty xin mở Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh là thương nhân nước ngoài cho tới thời điểm hiện nay xác định đã được sáp nhập cùng với Công ty B Pte.Ltd và B Asia Pacific Pte. Ltd thành Công ty Công ty B Pte.ltd (199705854N) có hiệu lực từ ngày 31/3/2013.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có người đại diện theo ủy quyền là ông Kiều Anh V trình bày: Thời điểm tháng 8/2020 ông V mới được phía Công ty B Pte.Ltd (199705854N) cung cấp hồ sơ pháp nhân của công ty cũng như hồ sơ xác nhận việc sáp nhập Công ty B Singapore Pte.Ltd từ năm 2013 trở thành Công ty B Pte.Ltd (199705854N). Đồng thời ông được Công ty B Pte.Ltd (199705854N) ủy quyền trực tiếp tham gia tố tụng với tư cách đại diện cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án lao động giữa nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng H với Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông V cho rằng theo quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam tại Khoản 1 Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2014 thì công ty bị sáp nhập chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập và đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Do đó, công ty B Singapore Pte.Ltd đã chấm dứt tồn tại từ năm 2013 đến nay. Ông V đại diện công ty B Pte.Ltd đề nghị Tòa án xem xét quyền và nghĩa vụ tố tụng của công ty theo quy định pháp luật. Ông V tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty B Pte.Ltd trong vụ án lao động này không có nghĩa là Công ty B Pte.Ltd kế thừa quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng lao động, trách nhiệm pháp lý (nếu có) của Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh với bà H. Ông V đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện, xác định bị đơn là Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà H trái pháp luật. Cho đến thời điểm hiện nay Văn phòng đại diện vẫn chưa hoàn tất thủ tục đóng cửa vì còn tranh chấp về lao động đối với bà H. Do đó Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh phải bồi thường cho bà H tiền lương những ngày không được làm việc từ 01/01/2011 đến ngày 09/9/2013 và 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động pháp luật tổng số tiền là 833.857.150 đồng (tính tại thời điểm xét xử). Thi hành án ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn là Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh không có nên Tòa án không thu thập được chứng cứ và lời khai.

Công ty B Pte.Ltd có người đại diện theo ủy quyền đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, công ty vẫn giữ nguyên các ý kiến như đã trình bày tại bản tự khai ngày 14/8/2020 nộp. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án lao động sơ thẩm số 1563/2020/LĐ-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1/. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hồng H đối với Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc:

- Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bà Phạm Thị Hồng H;

- Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh phải bồi thường tiền lương trong những ngày bà Phạm Thị Hồng H không được làm việc từ ngày 01/01/2011 đến ngày 09/9/2013;

- Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh phải bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/10/2020, bà Phạm Thị Hồng H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng H, ông Trương Đình Công V kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho bà H tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày 01/11/2011 đến ngày 09/9/2013 và bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty B PTE.LTD (199705854N) có ông Kiều Anh V là người đại diện theo uỷ quyền đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

-

c

:

; Đồng thời đề nghị hủy án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án do bị đơn đã chấm dứt hoạt động nhưng không có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét:

. Về tố tụng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015 thì Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân. Còn theo khoản 7 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng. Như vậy, Văn phòng đại diện không thể là đương sự của vụ án mà pháp nhân mới là đương sự của vụ án dân sự.

Hồ sơ thể hiện: Văn phòng đại diện B Singapore Pte.Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Văn phòng) có Công ty mẹ tại Singapore nhưng Tòa sơ thẩm chưa thu thập, xác minh làm rõ mà xác định Văn phòng là bị đơn là chưa đúng.

Mặc khác, tại thời điểm xét xử sơ thẩm thì Văn phòng đại diện B Singapore PTE.LTD tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chấm dứt hoạt động, trả văn phòng thuê và không có người đại diện theo pháp luật. Lẽ ra, Tòa sơ thẩm phải xác minh, làm rõ xem có tổ chức nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Văn phòng này không? Công ty mẹ tại Singapore có ý kiến gì về trường hợp này? Nhưng tòa sơ thẩm nhận định “do bị đơn đã chấm dứt hoạt động và không có người đại diện theo pháp luật” nên niêm yết giấy triệu tập để xét xử vắng mặt là không đúng quy định tại tại điểm b khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Tóm lại:

Tòa sơ thẩm chưa xác minh, thu thập chứng cứ để xác định tại thời điểm xét xử bị đơn có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng hay không? Nếu không có thì phải đình chỉ, trả lại đơn khởi kiện. Đồng thời làm rõ tư cách tham gia tố tụng của bị đơn là Văn phòng hay Công ty mẹ tại Singapore. Trong khi chưa làm rõ những vấn đề nêu trên mà tiến hành xét xử bác yêu cầu của nguyên đơn là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và không đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn.

Do đó, cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa sơ thẩm xét xử lại theo quy định pháp luật.

. Do hủy án nên nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng H không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

;

QUYẾT ĐỊNH:

3 Điều 308, Điều 310

2015;

1/. Hủy Bản án lao động sơ thẩm số 1563/2020/LĐ-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

2/. Về án phí lao động sơ thẩm và án phí lao động phúc thẩm: Bà Phạm Thị Hồng H không phải chịu.

3/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Thành viên Hội đồng xét xử

Cỡ chữ