vanban.org

Bản án 05/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 11/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt:

của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lý Thị G phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thị G - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG HÒA
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HSST
Ngày 11-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA - CAO BẰNG

- Thành phần tiến hành phiên tòa theo thủ tục rút gọn gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hiền

- Thư ký phiên toà: Bà Mã Thư Viện – Thư ký Toà án nhân dân huyện

Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng

tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh

Cao Bằng xét xử công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số

08/2022/HSST ngày 27/01/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

03/2022/QĐXXST-HS ngày 07/02/2022 đối với bị cáo:

Lý Thị G; sinh ngày: 08 tháng 3 năm 1974 tại H, B, Bắc Kạn.

Nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Làm ruộng;

trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch:

Việt Nam; con ông Lý Văn V (đã chết) và bà Dương Thị N (đã chết); có chồng:

Bế Văn T, sinh năm: 1965 và 02 con (con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm

1996); tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: Ngày 12/11/2012 bị Công an huyện

Trà Lĩnh (nay là huyện Trùng Khánh), tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành

chính về hành vi trộm cắp tài sản; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi

nơi cư trú từ ngày 10/01/2022 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Hoàng Thị S; sinh năm: 1960; trú tại: Xóm Đ, xã Đ, huyện Q,

tỉnh Cao Bằng; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14 giờ 20 phút ngày 04/01/2022 Công an huyện Quảng Hòa nhận

được trình báo của bà Hoàng Thị S, sinh năm 1960, trú tại: Xóm Đ, xã Đ, huyện

Q về việc bà bị mất 01 (một) chiếc điện thoại di động mà bà để quên trên ghế ở

sảnh chờ lấy kết quả xét nghiệm của bệnh viện đa khoa huyện Quảng Hòa. Qua rà soát dữ liệu từ camera ghi lại toàn cảnh khu vực trả kết quả xét nghiệm tại bệnh viện đa khoa huyện và sổ theo dõi người ra vào bệnh viện cho thấy: Lý Thị G trú tại xóm L, xã H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng có mặt tại vị trí để chiếc điện thoại và đã trộm cắp tài sản trên.

Ngày 05/01/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra đã yêu cầu định giá đối với tài

sản Lý Thị G trộm cắp. Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 06/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quảng Hòa kết luận chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME C15 4-64GB màu xanh hải dương, đã qua sử dụng có giá trị là 3.032.000đ (ba triệu không trăm ba mươi hai nghìn đồng).

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an

huyện Quảng Hòa đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Lý Thị G.

Trong quá trình điều tra, Lý Thị G khai nhận: Ngày 04/01/2022 G cùng bà

Lương Thị C, sinh năm 1942, là người cùng xóm L, xã H cùng nhau đi khám tại Bệnh viện đa khoa huyện Quảng Hòa thuộc tổ dân phố Hòa Nam, thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, G đi đến khu vực trả kết quả xét nghiệm, còn bà C thì đợi ở nơi tiếp nhận khám chữa bệnh. Tại đây, G nhìn thấy khu vực ghế ngồi đợi bên phải, hướng từ cửa đi vào có 05 (năm) người đang ngồi đợi ở đó, tại chiếc ghế thứ ba hướng từ cửa vào không có người ngồi, có đặt 01 (một) chiếc điện thoại di động. G đi vào ngồi xuống vị trí chiếc ghế trống đó, dùng tai trái đẩy chiếc điện thoại về phía sau lưng rồi cầm lấy điện thoại nhét vào cạp quần đằng sau. Sau khi lấy được điện thoại, G đứng dậy đi ra phòng khám, khoảng 10 phút sau mới quay lại khu vực trả kết quả xét nghiệm để lấy kết quả. Đến 15 giờ cùng ngày, G cùng bà C đi về nhà, về đến nhà G tháo 02 (hai) sim gắn trong điện thoại vừa trộm được ra và để vào trong túi áo khoác đang mặc. Khi cơ quan điều tra đến làm việc, Lý Thị G đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại cùng 02 (hai) sim điện thoại trộm được của bà Hoàng Thị S.

Bị hại Hoàng Thị S khai đã nhận được tài sản bị trộm cắp, do đó không

yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị cơ quan chức năng xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 08/QĐ-VKSQH ngày

26/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng truy tố đối với bị cáo Lý Thị G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng giữ

nguyên quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đối với bị cáo Lý Thị G về tội

“Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận nội dung Quyết định truy

tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao

Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa

trình bày quan điểm về nguyên nhân phạm tội của bị cáo là do bột phát nhất thời

nhìn thấy chủ tài sản sơ hở bỏ quên nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. Bị cáo

phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và

tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Đề nghị Tòa án: Áp

dụng khoản 1 Điều 173, điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật

hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian

thử thách từ 12 đến 24 tháng.

Bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện

Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng về tội danh, hành vi phạm tội, mức hình phạt và

quan điểm xử lý, do đó không có ý kiến tranh luận.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình

và mong muốn được xem xét hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo có cơ hội sửa

chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện

Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã

thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng

hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố

tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ

quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định

tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều

hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Lý Thị G phù hợp với các

tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Lời

khai của bị cáo trước cơ quan điều tra, hình ảnh có trong dữ liệu điện tử ghi lại

toàn cảnh khu vực trả kết quả xét nghiệm tại Bệnh viện đa khoa huyện Quảng

Hòa ngày 04/01/2022.

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo

tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, có đủ căn cứ chứng minh vào khoảng 14 giờ ngày 04/01/2022 Lý Thị G đi đến khu vực trả kết quả xét nghiệm của Bệnh viện đa khoa huyện Quảng Hòa, nhìn thấy 01 (một) chiếc điện thoại của bà Hoàng Thị S để quên trên ghế, G đã nảy sinh ý định trộm cắp và thực hiện hành vi phạm tội bằng cách ngồi xuống vị trí chiếc ghế có để chiếc điện thoại, lén lút dùng tay trái đẩy chiếc điện thoại về phía sau lưng, rồi cầm lấy điện thoại nhét vào cạp quần đằng sau và nhanh chóng rời khỏi khu vực trả kết quả xét nghiệm.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực trách

nhiệm hình sự, nhận thức rõ tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, nhưng lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, bị cáo đã nổi lòng tham bất chấp quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội và trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận Quyết định truy tố theo thủ tục

rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lý Thị G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tặng

nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nghiêm trọng, tính chất và mức độ

nguy hiểm cho xã hội không lớn nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác.

Nhân thân: Bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, tiền sự này

tuy đã hết thời hiệu nhưng qua đó thể hiện thái độ chấp hành pháp luật bị cáo, mặc dù đã bị xử phạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm

trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần phải cách ly bị cáo

ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Tuy nhiên, do bị cáo được hưởng 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bản thân có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, phạm tội do cơ hội nên khi quyết định hình phạt cần mở lượng khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều

kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để giáo dục riêng đối với bị

cáo và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định,

không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nên không áp

dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, bị cáo, bị hại không

có khiếu nại quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra, do đó Tòa án

không xem xét.

. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo Lý Thị G phải chịu án phí hình sự sơ

thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh

Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và quan điểm xử lý là phù hợp với

tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hoàn cảnh kinh tế của bị cáo, nên cần

được chấp nhận.

Xét đề nghị xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất của bị cáo là thể hiện

sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên cần được xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; và Điều 65

của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lý Thị G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Lý Thị G 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian

thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lý Thị G cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng

để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi

nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02

(hai) lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp

hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lý Thị G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai

trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Bị cáo Lý Thị G có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời

hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại Hoàng Thị S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ