vanban.org

Bản án 05/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 21/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về xử lý vật chứng: Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Văn Đ phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC THỌ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS-ST
Ngày: 21/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ - TỈNH HÀ TĨNH

- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Chương và ông Trần Cao Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức- Kiểm sát viên.

Vào hồi 13 giờ 30 phút Ngày 21/12/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2022/TLST-HS ngày 06/01/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-HS ngày 10/01/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; sinh ngày 17/9/1993, tại xã L, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn S và bà Lê Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;

Tiền án: Có 02 tiền án.

+ Ngày 28/3/2012, bị Toà án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng 08 ngày (Được trừ 26 ngày tạm giam, thời hạn tù còn lại phải chấp hành là 08 tháng 04 ngày) về tội “Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự (Chưa được xoá án tích);

+ Ngày 25/6/2014, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, tổng hợp hình phạt cả hai tội là 03 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của cả hai bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm 02 tháng 04 ngày tù (Chưa được xoá án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 02/11/2021 đến nay tại thôn T, xã L, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

- Bị hại: Ông Phan Thanh H; sinh năm: 1976; địa chỉ: Tổ dân phố 08, thị trấn T, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Phan Công H; sinh năm: 1992; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt;

+ Anh Trần Ngọc T; sinh năm: 1989; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt;

+ Anh Nguyễn Thành L; sinh năm: 1990; địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt;

+ Anh Đinh Trọng G; sinh năm: 1985; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 27/02/2018, Trần Ngọc T rủ Nguyễn Văn Đ, Phan Công H, Nguyễn Thành L, Đào Nhật N, Đinh Trọng G đến nhà tại thôn L, xã A, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh để uống rượu. Sau khi ăn uống xong, cả nhóm đến hát karaoke tại phòng 203, quán H thuộc tổ dân phố 08, thị trấn T, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 20 giờ 48 phút cùng ngày, Nguyễn Văn Đ đi xuống quầy lễ tân ở tầng 01 để mua thuốc lá. Tại đây, Đ nhìn thấy các anh Cù Hoàng H, Trần Viết H và Trần Văn M đang nói chuyện ở khu vực lễ tân. Nghĩ rằng những người này đang châm chọc mình nên Đ quay lại, dùng tay phải 03 cái vào mặt, đầu anh M thì được mọi người can ngăn nên Đ đi lên phòng hát. Sau khi lên phòng, Nguyễn Văn Đ nói với mọi người : “Có anh kia đánh em”. Nghe vậy, cả nhóm không hát nữa và đi xuống tầng 01, tại đây L nhận ra anh M là người quen nên bảo Đ vào xin lỗi. Tuy nhiên, do bức xúc việc bị đánh trước đó nên M dùng tay phải đấm một cái vào mặt Nguyễn Văn Đ thì được mọi người can ngăn, nên Đ đi ra ngoài. Lúc này, Phan Thanh H đi vào sảnh và nghe kể việc M bị Đ đánh nên H đi lại phía Nguyễn Văn Đ và nói: “Mày vào đây xin lỗi bạn anh, anh bảo lãnh cho, không ai dám đánh mày đâu”. Nghe vậy, Nguyễn Văn Đ lấy trong túi áo khoác bên phải ra một con dao bấm, cầm trên tay phải chạy về phía anh Trần Văn M để đánh anh M. Thấy vậy, anh H cầm một bình xịt hơi cay xịt vào mặt Đ. Khi bị xịt hơi cay, Đ liền quay lại, tay phải dùng dao đâm một nhát theo chiều ngang, từ trái qua phải trúng cẳng tay phải của anh H. Sau đó, Phan Thanh H được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Đức Thọ, đến ngày 12/3/2018 thì sức khoẻ ổn định, ra viện. Ngày 13/3/2018, Phan Thanh H có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 30/TgT ngày 15/3/2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Hà Tĩnh xác định: Sẹo vết thương 1/3 giữa mặt sau cẳng tay phải hình vòng cung, đứt cân cơ, kích thước 4cm x 0,2cm; tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh H là 06 % (Sáu phần trăm).

Nguyễn Văn Đ sau khi phạm tội đã bỏ trốn, đến ngày 02/11/2021 về đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 05/CT-VKS-ĐT ngày 05 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm d Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng tuy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã tự nguyện bồi thường cho bị hại anh Phan Thanh H số tiền 50.000.000 đồng. Tại phiên toà bị cáo, bị hại không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm dạng gấp, dài 20cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại màu trắng dài 10cm, một bề sắc, bén, có mũi nhọn, bản rộng 03cm; phần cán dao dài 10cm, làm bằng kim loại có ốp gỗ màu nâu hai bên, phần cán có đính kẹp bằng sắt, sơn màu đen.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, nhận thức về hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến hay không khiếu nại gì. Bị hại không có yêu cầu gì về phần dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ và việc vắng mặt của họ không làm cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vụ án.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 27/02/2018, tại sảnh tầng 01, quán karaoke H, thuộc tổ dân phố 08, thị trấn T, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi dùng dao đâm vào cẳng tay phải của anh Phan Thanh H, gây thương tích 06%.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng có tại hồ sơ cũng như tang vật thu hồi được. Khi thực hiện hành vi phạm tội bi cáo Nguyễn Văn Đ đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức r hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện; bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm (Dao bấm); bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá án tích. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết t ng n ng, gi m nh trách nhiệm hình sự; c n cứ quyết định hình phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi thực hiện hành vi bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo; đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Văn Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã xâm phạm tới sức khoẻ của bị hại Phan Thanh H được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Hành vi của bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện; bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện ý thức bất chấp pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Từ những phân tích trên đây, sau khi cân nhắc tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét cần áp dụng hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo Nguyễn Văn Đ ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Mức án Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về biện pháp tư pháp: 01 con dao bấm dạng gấp, dài 20cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại màu trắng dài 10cm, một bề sắc, bén, có mũi nhọn, bản rộng 03cm; phần cán dao dài 10cm, làm bằng kim loại có ốp gỗ màu nâu hai bên, phần cán có đính kẹp bằng sắt, sơn màu đen của bị cáo Nguyễn Văn Đ là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ theo Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã tự nguyện bồi thường cho bị hại anh Phan Thanh H số tiền 50.000.000 đồng. Tại phiên toà bị cáo, bị hại không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về xem xét trách nhiệm của những người liên quan:

Trong vụ án này, đối với hành vi của anh Phan Thanh H khi dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt Nguyễn Văn Đ, mặc dù chưa gây hậu quả nhưng hành vi của Phan Thanh H vi phạm vào điểm d khoản 3 Điều 10 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hành chính đối với hành vi của Phan Thanh H là có căn cứ.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn Đ đã dùng tay đấm vào mặt, đầu của anh Trần Văn M, nhưng anh M chỉ bị thương nhẹ và không có yêu cầu nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Khoản 1,2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Điều 6, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 134, Điểm b, s, Khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm dạng gấp, dài 20cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại màu trắng dài 10cm, một bề sắc, bén, có mũi nhọn, bản rộng 03cm; phần cán dao dài 10cm, làm bằng kim loại có ốp gỗ màu nâu hai bên, phần cán có đính kẹp bằng sắt, sơn màu đen. Đặc điểm các vật chứng được thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Thọ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ lưu tại hồ sơ vụ án.

3. Về án phí:

Căn cứ Khoản 1,2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Điều 6, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/12/2022.

Cỡ chữ