- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tất T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Tất T (Rem) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HS-ST Ngày 22- 02- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Ngọc Long
2. Ông Thái Tăng Hữu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Võ Tất T, tên gọi khác: Rem, sinh ngày 21/01/1991 tại tỉnh Quảng Trị; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: KP4, phường ĐT, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tất T1 (đã chết), con bà Hồ Thị Th, sinh năm 1968; có vợ là Nguyễn Thị Ph (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/09/2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Như Q, sinh năm 1999, trú tại: KP10, p5, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
Những người làm chứng:
- Anh Nguyễn Hữu Th1, sinh năm 1972, trú tại: Thôn CL, xã TA, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đình D, sinh năm 1992, trú tại: Thôn AT, xã TA, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h30 ngày 24/9/2021, Võ Tất T dùng điện thoại của mình số 0949.715.234 gọi đến số điện thoại số 0702.515.707 của một người đàn ông có tên là T2 ở phường 4, thành phố Đông Hà để hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy. T2 đồng ý và hẹn T khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày đến khu nghĩa địa phường 4, thành phố Đông Hà để giao hàng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen biển số 74C1 – 398.37 của mình đến địa điểm đã hẹn thì gặp T2 đứng đợi sẵn. T đưa cho T2 3.000.000 đồng, T2 đưa cho T 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 193 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh; 01 gói nilong trong suốt, bên trong chứa 30 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh. T cầm ma túy rồi điều khiển xe về nhà, sau đó lấy ra 05 viên ma túy màu hồng từ gói nilon màu xanh, một mình sử dụng hết 05 viên, rồi đi ngủ. Đến sáng ngày 25/9/2021, T muốn qua chợ Ngã Tư Sòng mua ít đồ dùng cá nhân, nhưng trong thời gian giãn cách xã hội có nhiều chốt kiểm soát sợ không đi được nên bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1 – 398.37 theo đường mòn gần nhà T qua khu nghĩa địa thuộc thôn CL, xã TA dựng sẵn xe ở đó và đi bộ về nhà. Khoảng 7h30 cùng ngày, T lấy số ma túy còn lại bỏ vào 01 bao mì tôm loại “3Miền”, cất giấu vào túi quần jean phía sau bên trái rồi đi bộ đến khu nghĩa địa thôn Cam Lộ để lấy xe đi. Khi T vừa lên xe, di chuyển thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lộ bắt quả tang thu giữ 01 vỏ bao mì tôm loại “3Miền”, bên trong có 01 gói nilon màu xanh, kích thước (6 x 9cm), bên trong chứa 188 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có in chữ “WY” và 02 viên nén màu xanh, mỗi viên một mặt có in chữ “Y1”, một mặt có in chữ “A”; 01 gói nilon trong suốt, bên trong chứa 30 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh có đặc điểm như trên nghi là ma túy Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 971/KLGĐ - KTHS ngày 28/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
- 30 viên nén màu hồng, dạng hình trụ tròn (đựng trong túi nilon đánh số thứ tự 01, được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT) gửi đến giám định có khối lượng 3,1935g là ma túy loại Methamphetamine.
- 188 viên nén màu hồng, dạng hình trụ tròn (đựng trong túi nilon đánh số thứ tự 3, được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT) gửi đến giám định có khối lượng 17,5261 g là ma túy loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT: 323 Nghị định 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- 03 viên nén màu xanh, dạng hình trụ tròn (đựng trong túi nilon đánh số thứ tự 2,4 được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT) gửi đến giám định có khối lượng 0,2914g, không tìm thấy chất ma túy trong viên nén màu xanh.
Tại Bản kết luận giám định số 978/KLGĐ – KTHS ngày 29/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Trên bề mặt các mẫu vật gửi giám định, phát hiện 01 dấu vết đường vân trên túi nilon nhiều màu sắc nhưng đặc điểm ít, không đủ cơ sở kết luận.
Bản cáo trạng số 07/CT-VKSCL ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Võ Tất T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ đề nghị:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Tất T: từ 6 năm 06 tháng đến 7 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng:
+ Số ma túy còn lại sau giám định là vật chứng cấm lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy;
+ Chiếc điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Sony Ericsson Xperia, Imei: 351906059702434, bên trong có gắn thẻ sim Vinaphone được niêm phong trong phong bì, ký hiệu ĐT, là công cụ phạm tội bị cáo liên lạc để mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Chiếc sim Vinaphone không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hũy.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, màu đen, biển kiểm soát 74C1 – 398.37, số khung: RLCUG0610JY658615, số máy: G3D4E685942. Chiếc xe là tài sản riêng của bị cáo, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ đã truy tố. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời, sống có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cam Lộ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, Kiểm sát viên, Điều tra viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Võ Tất T tại phiên tòa thể hiện vì có nhu cầu sử dụng ma túy, ngày 24/9/2021, bị cáo đã liên lạc với một người tên T2 ở phường 4, thành phố Đông Hà để hỏi mua ma túy với số tiền 3.000.000 đồng về để sử dụng. Sau khi lấy ma túy tổng cộng 226 viên từ Tú, bị cáo đưa về nhà sử dụng hết 05 viên, còn lại 221 viên bị cáo bỏ vào gói mì tôm rồi nhét vào túi quần chuẩn bị điều khiển xe đến khu vực chợ Ngã Tư Sòng thì bị bắt giữ. Kết luận giám định thể hiện trong số 221 viên có 218 viên là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 20,7196 gam. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác nên có căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
g, ...Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.”
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người nhưng vì ham muốn cá nhân nên đã mua ma túy về với mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo là chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Về hình phạt bổ sung: Vì bị cáo đang còn nuôi con con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Qúa trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng tên T2 ở phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, là người đã bán ma túy cho bị cáo T, nhưng cho đến nay vẫn chưa xác định được danh tính, khi nào điều tra được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:
- Số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong túi niêm phong có ký hiệu PS3 1908204 là vật chứng cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
- 01 mảnh ni lon trong suốt, 01 túi nilong màu xanh, 01 túi nilong loại vỏ bao mì tôm hiệu “3 Miền”, tất cả được đựng trong hộp giấy ký hiệu M là vật chứng của vụ án nhưng có giá trị không lớn nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Sony Ericsson Xperia, Imei: 351906059702434, bên trong có gắn thẻ sim Vinaphone được niêm phong trong phong bì, ký hiệu ĐT, là công cụ bị cáo liên lạc để mua ma túy nên áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu nộp ngân sách nhà nước; 01 thẻ sim Vinaphone có giá trị không lớn nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, màu đen, biển kiểm soát 74C1 – 398.37, số khung: RLCUG0610JY658615, số máy: G3D4E685942. Bị cáo mua lại của một người không quen biết và sử dụng chiếc xe này để mua ma túy nên có căn cứ xác định chiếc xe là phương tiện phạm tội cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Võ Tất T (Rem) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Võ Tất T: 06 năm 06 tháng (Sáu năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 25/09/2021.
2. Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- Số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 túi niêm phong có ký hiệu PS3 1908204 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, bên trong chứa mẫu còn lại sau giám định gồm 203 viên nén màu hồng có khối lượng 19,6947 gam và 1,1095 gam chất bột màu hồng là ma túy loại Methamphetamine;
- 01 mãnh ni lon trong suốt, 01 túi nilong màu xanh, 01 túi nilong loại võ bao mì tôm hiệu “3 Miền”, tất cả được đựng trong 01 hộp giấy ký hiệu M;
- 01 thẻ sim điện thoại Vinaphone, trên sim có dãy số: 89840200010608253878. Thẻ sim gắn bên trong máy điện thoại di động cảm ứng, màu xanh, nhãn hiệu Sony Ericsson Xperia, Imei: 351906059702434 (được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT).
2.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- Chiếc điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Sony Ericsson Xperia, Imei: 351906059702434, được niêm phong trong phong bì, ký hiệu ĐT.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 74C1 – 398.37, số khung: RLCUG0610JY658615, số máy: G3D4E685942, xe đã qua sử dụng.
Các vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận ngày 21/01/2022.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Tất T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Q.Trị; - VKSND huyện Cam Lộ; - Công an huyện Cam Lộ (3 bản); - Chi cục THADS huyện Cam Lộ; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Thi hành án hình sự; - Lưu VP; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quý |