- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM TỈNH KONTUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HS-ST. Ngày: 13/01/2022 |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM - TỈNH KONTUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Nghiên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông A Brưk
2. Bà Doãn Kim Huế
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Duyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy An - Kiểm sát viên.
Ngày 13/01/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon Tum - tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 164/2021/TLST - HS ngày 16/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
A N (tên gọi khác: không), sinh năm 2000 tại Kon Tum
Nơi cư trú: Thôn KonHrachot, phường Thống Nhất, TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 08/12, dân tộc: Bana; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: A Nét, sinh năm 1968 và bà Y Hăng, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ và là con duy nhất trong gia đình; tiền sự: Không.
Tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án số 68/2019/HS-ST ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt bị cáo 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 31/12/2019 chấp hành án xong án phạt tù trở về địa phương (Chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/10/2020 đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn Phong, sinh năm 1993.
Trú tại: Số 333 Trần Văn Hai, phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)
2. Bà Lê Thị Ánh, sinh năm 1963.
Trú tại: Số 281 Bắc Kạn, phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.(Có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông A Nét, sinh năm 1968
Trú tại: Thôn KonHrachót, phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)
2. Anh Trần Thanh Nhật, sinh năm 1995.
Trú tại: Thôn KonHrachót, phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
Anh A Gim, sinh năm 2000.
Trú tại: Thôn KonHrachót, phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h30’ ngày 31/8/2021, A N mượn xe mô tô BKS 82B1-886.28 của bố đẻ là ông A Nét đi tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản, khi đi A N rủ A Gim đi cùng nhưng A N không nói với A Gim biết việc A N đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi đến trước số nhà 333 Trần Văn Hai, A N nhìn thấy bên trong nhà có treo 01 lồng chim, A N quan sát không có ai nên nói A Gim dừng xe lại. A N một mình đi bộ, lén lút vào trong nhà trộm cắp một lồng chim bằng gỗ, bên trong có 01 con chim chào mào màu trắng đen của anh Nguyễn Văn Phong. Sau khi trộm cắp được chim, A N nói với A gim điều khiển xe mô tô đi đến nhà Trần Thanh Nhật. Tại nhà Nhật, A N nói với Nhật có mua chim không, Nhật hỏi giá bao nhiêu thì A N báo giá 200.000đ nhưng lúc này do không có tiền nên Nhật nói A N để đó chiều có tiền sẽ mua. Sau đó A N mang cả lồng chim và chim treo phía sau nhà Nhật và đi về.
Đến khoảng 12h30’ ngày 31/8/2021, A N đang ngồi nhậu tại ngã ba gần nhà thì thấy hai thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) đi trên 01 xe mô tô (không nhớ biển số) ngang qua nên A N rủ 02 người này đi nhậu thì cả hai đồng ý. Sau đó cả ba ra khu vực bờ kè thuộc thôn Konhrachot, phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum ngồi nhậu, trong lúc ngồi nhậu thì hết mồi nên A N dùng xe mô tô BKS 82B1-886.28 chở theo một thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) trong nhóm nhậu đi kiếm tài sản để trộm cắp.
Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đến trước số nhà 281 Bắc Kạn, phường Thống Nhất, TP. Kon Tum A N nhìn thấy 01 lồng sắt bên trong có 03 con gà. Quan sát không có người trông coi, A N nói người thanh niên đi cùng xuống lén lút lấy trộm 01 cái lồng sắt bên trong có 03 con gà của bà Lê Thị Ánh. Sau khi trộm cắp cả hai nhanh chóng bỏ chạy và mang gà về cất giấu tại nhà A Thông. A N tiếp tục chở người thanh niên đi cùng ra bờ kè , còn A N đi về nhà. Đến khoảng 14h cùng ngày A N bị bắt.
Tại kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐ ngày 13/9/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Kon Tum kết luận: giá trị của 01 (Một) lồng chim bằng gỗ kích thước: 45cm, rộng (30x30) (30x30)cm màu vàng và 01 (Một) con chim chào mào màu trắng đen, 03 (ba) con gà; 01 (một) chiếc lồng sắt tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.010.000 đ (Một triệu không trăm mười ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số 01/CT -VKSNDTPKT ngày 15/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo A N về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo A N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo A N từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận gì; nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, Vào khoảng 12h ngày 31/8/2021, A N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã điều khiển xe mô tô BKS 82B1-886.28 rủ A Gim đi chơi. Khi đến trước nhà ông Nguyễn Văn Phong, A N đã lén lút trộm cắp 01 (một) lồng chim bên trong có 01 (một) con chim chào mào. Sau đó đem bán cho Trần Thanh Nhật. Đến khoảng 13h30’ cùng ngày, A N cùng với một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) đi đến trước số nhà 281 Bắc Cạn – P. Thống Nhất – TP. Kon Tum thì trộm cắp 03 (ba) con gà và 01 (một) lồng sắt của bà Lê Thị Ánh rồi đem về nhà Thông (Wiu) cất giấu. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 1.010.000 (Một triệu không trăm mười ngàn). A N thực hiện 02 (hai) lần trộm cắp tài sản, tuy nhiên mỗi lần phạm tội tài sản định giá không đủ 2.000.000 đ (Hai triệu đồng). Trước đây A N có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này vẫn đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận A N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như cáo bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, động cơ phạm tội của bị cáo là vì vụ lợi. Nguyên nhân phạm tội của bị cáo là do bản chất lười lao động, thích đua đòi ăn chơi, để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi “trộm cắp tài sản” để hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác một cách trái pháp luật, trái với đạo đức xã hội. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn nhưng bị cáo đã từng bị Tòa án kết án chưa được xóa án tích nay tái phạm, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, tạo tâm lý hoang mang, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phải xử phạt một mức án nghiêm minh tương xứng với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo tuy thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trong vụ án, tuy nhiên định lượng không đủ 2.000.000 đồng nên xét không cần thiết áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về vật chứng:
Quá trình điều tra xác minh được chủ sở hữu, xét không cần thiết phải tạm giữ nên Cơ quan CSĐT- Công an TP. Kon Tum đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu bà Lê Thị Ánh Trả lại 01 (một) con gà trống, màu lông vàng, trọng lượng 1,2kg; 01 (một) con gà mái, màu lông nâu, trọng lượng 1,5kg; 01 (một) con gà mái, màu lông xám đen, trọng lượng 3,3kg; 01 (một) lồng sắt, trọng lượng 2kg; Trả lại cho anh Nguyễn Văn Phong 01 (một) lồng chim bằng gỗ, kích thước: cao 45cm, rộng (30*30)cm, màu vàng; 01 (một) cá thể chim chào mào, màu lông đen-trắng; Trả lại cho ông A Nét 01 (một) xe mô tô biển số 82B1-886.28, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng. Hội đồng xét xử xét thấy việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không đề cập đến.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Về các tình tiết khác: Đối với A Gim là người đi cùng A N. Tuy nhiên A Gim không biết A N thực hiện hành vi trộm cắp. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum không xử lý A Gim về hành vi “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ.
Đối với Trần Thanh Nhật là người mua 01(một) con chim chào mào, màu lông trắng – đen và 01 (một) lồng chim bằng gỗ do A N trộm cắp mà có, Nhật chưa đưa tiền cho A N. Tuy nhiên, Nhật không biết tài sản là do trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý Nhật về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với nam thanh niên người dân tộc thiểu số (không rõ nhân thân, lai lịch) là người đi cùng A N trộm cắp tài sản, nhưng hiện nay chưa xác minh được nhân thân lai lịch. Cơ quan CSĐT công an thành phố Kon Tum sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.
Việc A N sau khi trộm cắp được 03 (ba) con gà và mang tới nhà Thông cất giấu, tuy nhiên tại thời điểm này không có Thông ở nhà nên không có cơ sở xử lý Thông về hành vi “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Việc A N sử dụng xe mô tô biển số: 82B1-886.28 của ông A Nét làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản, tuy nhiên ông A Nét không biết việc A N sử dụng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, nên không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông A Nét.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo A N phạm tội “Tội trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo A N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 11/10/2021.
4. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 – Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ Điều 331 Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (13/01/2022); Riêng người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND tỉnh Kon Tum; - VKSND Tp. Kon Tum; - Sở tư pháp tỉnh Kon Tum; - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Kon Tum; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Kon Tum; - Chi cục THADS Tp. Kon Tum; - Hồ sơ THA hình sự; - Các bị cáo; người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Nghiên |