- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HS-ST Ngày: 11/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Hoàng Việt;
2. Ông Nguyễn Như Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài Thu - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 139/2021/HSST ngày 13 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021; Thông báo về việc dời ngày xét xử ngày 14 tháng 12 năm 2021 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 14/2021/HSST-QĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trần Văn H; sinh năm: 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường A, Phường B, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Văn Lê H và bà Trần Thị Xuân T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Bản án số 173/2019/HSST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 8, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: không. Bị bắt tạm giam ngày 01/7/2021 - Có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Huỳnh S, sinh năm 1999; địa chỉ: đường D, Phường E, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh - Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- 1 -
Vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 01/7/2021, Nguyễn Trần Văn H bắt xe ôm từ nhà tại Quận 4 đến ngã tư Đường 37 và Mai Văn Vĩnh, xuống vào nhà bà nội tại Đường 37, phường Tân Quy, Quận 7. Khi đi bộ ngang qua cửa hàng X, địa chỉ đường V, Khu phố 3, phường Tân Kiểng, Quận 7, H nhìn thấy 01 xe máy hiệu Honda AirBlade màu đỏ đen bạc biển số 59X2-93281 của ông Nguyễn Huỳnh S (nhân viên cửa hàng) đang dựng trên vỉa hè trước cửa hàng có gắn sẵn chìa khóa trên xe nên H đi bộ đến chiếc xe, quan sát xunh quanh không thấy ai liền ngồi lên xe, gạt chân chống, nổ máy xe rồi quay đầu xe để tẩu thoát thì bị chị Nguyễn Thị Ngọc T (nhân viên cửa hàng) và anh S phát hiện truy hô đuổi theo. Lúc này, do H điều khiển xe bị vấp vào bậc thềm xi măng vỉa hè của cửa hàng bị ngã xe nên H bỏ xe chạy bộ tẩu thoát đến trước nhà Đường 37, phường Tân Quy, Quận 7 thì bị anh S cùng người dân khống chế, bắt giữ giao công an phường Tân Kiểng lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Trần Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Theo kết luận định giá tài sản số: 319/KL-HĐĐGTTHS ngày 16/8/2021 của Hội đồng định giá Tố tụng hình sự UBND Quận 7, kết luận về giá tài sản: 27.100.000 đồng (hai mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng).
Vật chứng vụ án: 01 xe máy hiệu Honda AirBlade màu đỏ bạc đen biển số 59X2-93281, số khung 6309FZ356453, số máy JF63E1356478. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại cho ông Nguyễn Huỳnh S
Về phần dân sự: Ông Nguyễn Huỳnh S đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì.
Bản Cáo trạng số: 118/CT-VKSQ7 ngày 11/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Nguyễn Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về phần dân sự: Ông Nguyễn Huỳnh S đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý theo quy định của pháp luật.
- 2 -
Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 01/7/2021, bị cáo đi bộ ngang qua cửa hàng X, địa chỉ đường V, khu phố 3, phường Tân Kiểng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện 01 xe máy hiệu Honda AirBlade màu đỏ bạc đen biển số 59X2-93281 có gắn sẵn chìa khóa, đang dựng trước cửa hàng của ông Nguyễn Trần Văn H. Bị cáo đi bộ đến chiếc xe, quan sát xung quanh không thấy ai thì ngồi lên xe, gạt chân chống, nổ máy rồi quay đầu xe để tẩu thoát thì bị bà Nguyễn Thị Ngọc T (nhân viên cửa hàng) và ông S phát hiện truy đuổi theo. Bị cáo điều khiển xe vấp vào bậc thềm xi măng vỉa hè té ngã nên bỏ xe chạy bộ, đến trước nhà số 92 đường 37, phường Tân Quy, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị ông S cùng với người dân bắt giữ. Giao công an phường Tân Kiểng xử lý lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 319/KL-HĐĐGTTHS ngày 16/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận: “01 xe máy hiệu Honda Airblade biển số 59X2-93281, đăng ký lần đầu tháng 3/2016 giá trị: 27.100.000 đồng (hai mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng)”.
Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015,
- 3 -
được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo phạm tội do tham lam tư lợi. Hành vi phạm tội của bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Bị cáo là thanh niên khỏe mạnh, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động nên đã thực hiện hành vi phạm tội để có tiền tiêu xài. Vì vậy, cần xử phạt mức án nghiêm khắc để có đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án số 173/2019/HSST ngày 19/11/2019 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tài sản bị trộm cắp thu hồi được, chưa gây thiệt hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Trần Văn H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xử lý vật chứng: 01 xe máy hiệu Honda AirBlade màu đỏ bạc đen biển số 59X2-93281, số khung 6309FZ356453, số máy JF63E1356478, cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại cho ông Nguyễn Huỳnh S là đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trần Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2021.
- 4 -
2. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. HCM; - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Q.7; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu: sổ án, VT, HS (Phương Thúy) ). - 5 - | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Đào Lê Anh |