- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Hạnh Ngọc - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy Hạnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HS-ST Ngày: 26 – 01 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy Hạnh N; sinh năm: 1998 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu dân cư L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở: A đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Duy P (chết) và bà: Nguyễn Thị Mỹ H (chết); có chồng: Không và 01 con (sinh năm 2016), hiện đang mang thai; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo đang tại ngoại.
(Bị cáo có mặt).
- Bị hại:
Bà Võ Hồng A – Sinh năm: 2002 (vắng mặt).
Địa chỉ: B khu phố I, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 24/12/2021, Nguyễn Duy Hạnh N đi bộ quanh khu vực đường Hồ Thị Kỷ, Phường 1, Quận 10 tìm cơ hội để chiếm đoạt tài sản. Khi đi bộ đến trước nhà số 93/24 đường Hồ Thị Kỷ, Phường 1, Quận 10, N phát hiện bà Võ Hồng A đang đi bộ cùng với bạn, bà A có đeo 01 chiếc túi trên vai phải, N dùng 01 lưỡi dao (loại dao mổ trong y tế, chuẩn bị sẵn trong túi quần) rạch 01 đường 20 cm dọc túi của bà A và dùng tay phải thò vào trong túi lấy chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A30 màu đen và 500.000 đồng (bỏ trong ốp lưng điện thoại) của bà A; ngay lúc đó, bà A phát hiện túi bị rạch, không thấy điện thoại bên trong và nhìn thấy N đang đứng bên cạnh cầm điện thoại của mình; bà A và bạn đuổi theo N đến trước nhà số 103/12 đường Hồ Thị Kỷ, Phường 1, Quận 10 thì bắt giữ được N và vật chứng, giải giao cho Công an Phường 1 Quận 10 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.
Tài sản bị chiếm đoạt là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A30 màu đen và 500.000 đồng. Qua định giá xác định tổng giá trị 3.000.000 đồng (trong đó chiếc điện thoại trị giá 2.500.000 đồng).
Ngày 27/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố, điều tra đối với Nguyễn Duy Hạnh N về hành vi “Trộm cắp tài sản” và quyết định áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ án trên.
Quá trình điều tra, Nguyễn Duy Hạnh N đã khai nhận hành vi như trên.
Vật chứng vụ án:
Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30; 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 01 chiếc túi xách (bị rạch 01 đường thằng dài 20 cm); 01 ốp lưng điện thoại màu xanh lá chuối; tất cả là tài sản của bà A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã tiến hành giao trả lại các tài sản trên cho bà A.
Riêng đối với 01 con dao mổ, sử dụng trong y tế; Công an Quận 10 đã tạm giữ lại.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Võ Hồng A đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 06/QĐ-VKSQ10 ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Duy Hạnh N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo Nguyễn Duy Hạnh N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Duy Hạnh N đúng theo nội dung quyết định truy tố. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là phụ nữ có thai); đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h, i , n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Duy Hạnh N; xử phạt bị cáo: Nguyễn Duy Hạnh N từ 06 tháng đến 09 tháng tù, đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác, vật chứng: Đề nghị Tòa án xét xử xử lý các vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: Không có gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, người làm chứng, lời khai của bị hại, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng, bản kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Duy Hạnh N đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, trị giá 3.000.000 đồng; do vậy bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Việc áp dụng hình phạt:
Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy dù có chiếu cố đến đâu đi nữa, thì hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Tuy nhiên xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là phụ nữ có thai; vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h, i, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do mới bị kết án lần đầu.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và giao trả cho bị hại; do vậy không có gì để Tòa giải quyết.
Về vật chứng: Đối với 01 con dao mổ (sử dụng trong y tế) đã qua sử dụng, là công cụ dùng vào việc phạm tội; vậy căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy Hạnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Duy Hạnh N;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Hạnh N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án phạt tù.
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao mổ (sử dụng trong y tế) đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/01/2022 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án, đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - VKSND Quận 10; (4) - Công an Quận 10; (2) - Chi cục THADS Quận 10; (1) - Người tham gia tố tụng; (2) - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Triệu Luật |