vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 23/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn S phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn S 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời gian thụ hình được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/11/2021. Quyết định tạm giam bị cáo Hà Văn S 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn S phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:05 /2022/HS-ST
Ngày 23/2/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VN, TỈNH TN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Triệu Thị Xuân

2. Bà Hoàng Thị Huyền

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh TN.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VN, tỉnh TN tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 2 năm 2022, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh TNxét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2022/HSST, ngày 19 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022 /QĐXXST-HS ngày 11/2/2022 đối với bị cáo:

Hà Văn S, Sinh ngày 12/2/2001; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm BC, xã SM, huyện VN, tỉnh TN; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông: Hà Văn C, sinh năm 1976 và con bà Lý Thị K, sinh năm 1976; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có.

Tiền án : Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2021 tại Nhà giữ Công an huyện VN, tỉnh TN đến nay.

Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Vũ Thị T1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Xóm CB, xã LH, huyện VN, tỉnh TN. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Ngƣời làm chứng:

- Lường Văn C1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Xóm BC, xã SM, huyện VN, tỉnh TN. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).

-Lý Thị Sự, sinh năm 1965; Địa chỉ: Xóm Khuổi Chạo, xã SM, huyện VN, tỉnh TN. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).

-Nguyễn Văn Thủy, sinh năm 1981; Địa chỉ: Xóm Tân Thị, xã Tân Thành, huyện Phổ Yên, tỉnh TN. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 10/11/2021 Hà Văn S, sinh ngày 12/02/2001, nơi cư trú xóm BC, xã SM, huyện VN thuê ông Lường Văn C1, sinh năm 1971 là người cùng xóm dùng xe mô tô chở S đi từ xã SM đến khu vực ngã ba xã LHđể chờ bắt xe đi thành phố TNtìm việc làm thuê. Do S không có phương tiện đi lại, không có việc làm nên trên đường đi S nảy sinh ý định đến cửa hàng buôn bán xe máy ở xóm CB, xã LHdo hộ kinh doanh của anh Nguyễn Hữu T2 để lừa, chiếm đoạt xe mô tô. Để chuẩn bị cho việc thực hiện hành vi phạm tội, S vay của ông C1 20.000 đồng với mục đích khi chiếm đoạt được xe sẽ dùng để mua xăng vì S nghĩ trong xe bày bán không có nhiều xăng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, S bảo ông C1 chở S dừng ở cửa hàng bán xe mô tô T2 T1 để chủ cửa hàng tưởng rằng ông C1 và S là người nhà đưa nhau đi mua xe. S đi vào cửa hàng giả vờ hỏi mua xe và các hình thức T1 toán, sau khi được chị T1 tư vấn S nói dối là đồng ý mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu S: trắng, đỏ, đen; biển kiểm soát 20F1 587.25 đã qua sử dụng và yêu cầu được đi thử xe. Mặc dù S điều khiển xe côn tay thành thạo nhưng S nói dối chị T1 là không biết đi loại xe này, S yêu cầu anh T2 hướng dẫn nên anh T2 cùng S mang xe đến sân trước cổng Nhà máy may TNG huyện VN (cách cửa hàng khoảng 50m) để hướng dẫn S cách điều khiển rồi giao xe cho S đi thử. S điều khiển xe đi theo đường bê tông dân sinh tiếp giáp với tường bao và đi trong sân trước cửa vào của nhà máy TNG vài vòng đồng thời cố ý làm cho xe chết máy để anh T2 tin rằng S không biết điều khiển xe côn tay và buông lỏng sự quản lý chiếc xe. Khi anh T2 đưa xe về cửa hàng, S thấy lúc này anh T2 đã tin S nên S bảo cho đi thử tiếp và được anh T2 đồng ý giao xe cho S, S chạy thử xe khoảng 10 phút cho đến khi điều khiển xe mô tô đi lên đường quốc lộ 1B hướng TN– Lạng S (hướng lên chợ LH), S điều khiển xe mô tô đi chậm qua cửa hàng 50m thì thấy anh T2 không chú ý quan sát quản lý xe mô tô mình đang điều khiển, S tăng tốc điều khiển xe mô tô về phía ngã ba xã LH rồi bỏ chạy theo đường liên xã LH đi xã TS. Trên đường bỏ chạy S dùng 20.000 đồng vay được của ông C1 để mua xăng.

Khoảng 19 giờ S điều khiển xe đến nhà bà Lý Thị Sự, sinh năm 1965, cư trú tại xóm Khuổi Chạo, xã SM, huyện VN (là bá ruột của S). Lúc này gia đình bà Sự đã đi ngủ nên S dùng T1 “T” lấy được ở nhà bà Sự dùng để tháo biển kiểm soát của xe và cất lên trên T1 xiên nơi kê ván trải sàn phía dưới sàn nhà bà Sự rồi S ngủ lại đây. Sáng ngày 11/11/2021 S điều khiển xe mô tô chiếm đoạt được đi đến thôn Nà Vạng, xã Đổng Xá, huyện NR, tỉnh BKđể chơi và tìm việc làm.

Sau khi phát hiện bị Hà Văn S có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình ngày 10/11/2021 chị Vũ Việt T1 là vợ của anh Nguyễn Hữu T2 đã làm đơn trình báo đến Công an xã LHđể đề nghị điều tra giải quyết vụ việc trên theo quy định.

Sau khi nhận được đơn trình báo, Công an xã LHđã truy xét đối tượng Đến 14 giờ 35 phút ngày 11/11/2021 khi S đang có mặt tại khu vực hồ May Đẩy thuộc thôn Nà Vạng, xã Đổng Xá, huyện NR, tỉnh BKthì bị Công an xã LH, Công an xã SM và Công an xã Đổng Xá, huyện NR, tỉnh BKyêu cầu đến để làm việc. Qua làm việc S đã thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20F1 – 58725 của cửa hàng xe máy của hộ kinh doanh anh Nguyễn Hữu T2, S đã tự giác giao nộp chiếc xe trên cho Công an xã LH. Ngày 11/11/2021 Công an xã LHđã bàn giao S cùng toàn bộ hồ sơ tài liệu đến Cơ quan CSĐT Công an huyện VN để điều tra theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 19/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện VN kết luận: xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER màu S: trắng, đỏ, đen; biển kiểm soát 20F1 58725 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 31.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKVN ngày 18/01/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện VN đã truy tố bị cáo Hà Văn S về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VN trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Khoản 1 Điều 174; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: không đề nghị xem xét vì bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu giải quyết.Về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Về án phí Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, cơ quan Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện VN trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hà Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Với chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10/11/2021 tại xóm CB, xã LH, huyện VN, Hà Văn S đã dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt 01 chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, biển kiểm soát: 20F1 – 58725 của hộ kinh doanh anh Nguyễn Hữu T2 có giá trị 31.000.000 đồng khi đang mang đi tiêu thụ thì bị tạm giữ.

Hành vi của bị cáo Hà Văn S đã phạm vào tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện VN truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Điều 174 BLHS quy định nhƣ sau:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.

Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, hành vi này còn gây mất trật tự trị an ở địa phương và gây dư luận xấu trong xã hội nên phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo thực hiện.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng, cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt và có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 174 BLHS, nhưng xét thấy bị cáo không nghề nghiệp ổn định, không có tài sản. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại bà Vũ Việt T1 là đại diện của cửa hàng xe máy của hộ kinh doanh anh Nguyễn Hữu T2 có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu hội đồng xét xử xem xét giải quyết về phần trách nhiệm dân sự vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Ngày 16/12/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VN đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20F1- 58725 cho chị T1 , anh T2 quản lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9 ]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này Hà Văn S khai khoảng tháng 9/2021 khi S đang làm thuê tại quán ăn Vũ Cam tại khu vực Cầu Rẽo thuộc thị xã Phổ Yên, tỉnh TNdo anh Cam (không rõ họ tên và địa chỉ cư trú) làm chủ quán. Lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của anh Cam, S đã trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius không nhớ biển kiểm soát rồi mang bán cho một cửa hàng sửa chữa xe máy tại khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh với giá 1.400.000 đồng. Cơ quan CSĐT Công an huyện VN đã chuyển tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên để giải quyết theo thẩm quyền.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 174; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015; Điều 329 BLTTHS.

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn S phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn S 15 ( mười lăm) tháng tù. Thời gian thụ hình được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/11/2021.

Quyết định tạm giam bị cáo Hà Văn S 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Vũ Việt T1 là đại diện của cửa hàng xe máy của hộ kinh doanh anh Nguyễn Hữu T2 có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu hội đồng xét xử xem xét giải quyết về phần trách nhiệm dân sự vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Ngày 16/12/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VN đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20F1- 58725 cho chị T1 , anh T2 quản lý.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Hà Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết./.

Cỡ chữ