vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Tuyên án 28/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tạ Thanh V phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt bị cáo Tạ Thanh V 06 (sáu) tháng 15 (mười lăm) ngày tù. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Tạ Thanh V nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Thanh Vũ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tạ Thanh V phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 05/2022/HS-ST
Ngày: 28/01/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức

2. Ông Phan Minh Quốc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2021/HS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Tạ Thanh V, sinh năm 1973. Nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Thanh L (đã chết) và Lê Thị L, sinh năm 1946; Anh, chị, em ruột có năm người, bị cáo là người thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1982; Con có 02 người, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2021 cho đến nay.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng:

1/ Anh Phạm Công T, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2/ Anh Trần Minh H, sinh năm 1994. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

3/ Nguyễn Phước T1, sinh năm 2002. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

.

4/ Lữ Văn N, sinh năm 2003. Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

5/ Nguyễn Văn Trường L1, sinh năm 2003. Nơi cư trú: ấp Tây Huề, xã B, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

6/ Nguyễn Ngọc M, sinh năm 2002. Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

7/ Anh Đỗ Mười R, sinh năm 1997. Nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

8/ Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch tuần tra, kiểm soát trật tự an toàn, giao thông đường bộ trên các tuyến đường nông thôn thuộc xã B, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Khoảng 21 giờ ngày 21/4/2021, lực lượng Công an phối hợp với Dân quân tự vệ xã Bình Thành gồm: Anh Phạm Công T, Trần Minh H, Nguyễn Phước T1, Lữ Văn N, Nguyễn Văn Trường L1 đều mặc trang phục Ngành theo quy định, tiến hành tuần tra khu vực ấp Nam Huề phát hiện Nguyễn Văn N1 điều khiển xe mô tô biển số 54S8-8307 chở Tạ Thanh V ngồi sau xe không đội mũ bảo hiểm nên ra tín hiệu yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra hành chính, Nghĩa không xuất trình được giấy phép lái xe theo quy định, giấy đăng ký xe mô tô, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc nên Tổ công tác lập biên bản vi phạm hành chính, thì V dùng lời lẽ thô tục xúc phạm lực lượng và dọa sẽ đốt bỏ xe mô tô, không ký tên vào biên bản vi phạm cùng Nghĩa bỏ đi. Sau đó lực lượng tiến hành đưa xe mô tô về trụ sở Công an xã B để tạm giữ phương tiện và xử lý vi phạm hành chính thì V điều khiển xe mô tô biển số 67M1-147.12 chở Nguyễn Thị D (vợ của V) đến chân cầu Ba Thê, chặn ngang đầu xe mô tô 54S8-8307 do anh Thịnh là lực lượng đang làm nhiệm vụ điều khiển, tiếp tục dọa đốt, không cho lực lượng đưa xe về trụ sở Công an. Khi này, anh Phạm Công T - Phó trưởng Công an xã B tiếp tục giải thích đây là phương tiện vi phạm giao thông phải tạm giữ để giải quyết theo quy định, nhưng V không chấp hành, dùng tay giật, đẩy xe mô tô 54S8-8307 xuống mé ruộng, đồng thời lấy hộp quẹt gas bật lửa đốt thảm cao su làm xe bùng cháy còn phần khung xe, xong V lên xe mô tô điều khiển chạy đi. Thấy hành vi của V có dấu hiệu tội phạm, Công an xã B tiến hành lập biên bản sự việc và báo cáo đến Công an huyện Thoại Sơn tiếp nhận để xử lý theo quy định.

Ngày 13/7/2021, Tạ Thanh V bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn bắt tạm giam để điều tra.

Vật chứng thu giữ: Xe mô tô biển số 54S8-8307 hiệu Yamaha Luvias 44S1 bị cháy còn phần khung xe;

Tại Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 26/5/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, ghi nhận: Xe mô tô biển số 54S8-8307 hiệu Yamaha Luvias 44S1, trị giá 10.000.000 đồng.

Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 23/4/2021 của Phòng Cảnh sát giao thông-Công an tỉnh An Giang, ghi nhận: Không tìm thấy dữ liệu tra cứu xe mô tô biển số 54S8-8307.

Tại Bản cáo trạng số: 54/CT-VKSTS ngày 13/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Tạ Thanh V về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tạ Thanh V khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng:

Nguyễn Thị D trình bày: Năm 2019, vợ chồng Diễm mua xe mô tô biển số 54S8-8307 của một người phụ nữ không rõ họ, tên, địa chỉ để làm phương tiện đi lại, nhưng không làm thủ tục sang tên theo quy định. Khoảng 21 giờ ngày 21/4/2021, V chở Diễm đến gặp lực lượng Công an xã Bình Thành để xin nhận lại xe mô tô vi phạm, khi lực lượng không giải quyết, V bực tức giật lấy xe mô tô đẩy xuống ruộng, dùng quẹt gas đốt cháy xe mô tô 54S8-8307 như nội dung vụ án đã nêu. Xe mô tô bị thiệt hại Diễm không yêu cầu V bồi thường do tài sản sử dụng chung của vợ chồng và xin được nhận lại khung xe.

Các anh Phạm Công T (Phó trưởng Công an xã B), Trần Minh H, Nguyễn Phước T1, Lữ Văn N, Nguyễn Văn Trường L1, Nguyễn Ngọc Mì, Đỗ Mười Rắng, Nguyễn Văn Nghĩa trình bày như nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Tạ Thanh V mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về phần vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án này còn có người làm chứng Phạm Công T vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin vắng mặt) và những người làm chứng khác vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Tạ Thanh V:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, các biên bản hoạt động tố tụng. Ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đầy đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 21/4/2021, bị cáo Tạ Thanh V đã có những lời lẽ thô tục, xúc phạm lực lượng đang thi hành công vụ; đã thực hiện hành vi giật, đốt xe mô tô biển kiểm soát 54S8-8307 là phương tiện vi phạm hành chính, nhằm cản trở tổ công tác thực thi công vụ.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Trong thời gian qua, tình hình vi phạm pháp luật về chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh An Giang nói chung và huyện Thoại Sơn nói riêng liên tiếp xảy ra, ở nhiều mức độ khác nhau, làm ảnh hưởng đến uy tín của những người thi hành công vụ và ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan Nhà nước. Mặc dù các cơ quan chức năng kiên quyết trừng trị nhưng tội phạm này vẫn còn xảy ra.

Xét thấy bị cáo Tạ Thanh V là thanh niên đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức để biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì xem thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ; đồng thời xâm phạm hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan quản lý Nhà nước. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả bị cáo gây ra.

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo V bị tạm giam từ ngày 13/7/2021 đến nay (ngày 28/01/2022), thời gian tạm giam là 06 tháng 15 ngày. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong thời gian tạm giam rất ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết tạm giam bị cáo nữa mà cần áp dụng mức hình phạt tù bằng với thời hạn tạm giam cũng đủ có tác dụng để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Các biện pháp tư pháp khác:

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 xe mô tô biển kiểm soát 54S8-8307, số máy 44S1007404, hiệu Yamaha Luvias, số khung RLCL44S10AY007403, đã qua sử dụng, bị cháy trơ khung. Xét thấy, xe này thuộc quyền quản lý, sử dụng của bị cáo và vợ là Nguyễn Thị D. Tại phiên tòa, vợ chồng bị cáo yêu cầu được nhận lại; do vậy cần tuyên trả lại xe này cho bị cáo và chị Nguyễn Thị D.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với chị Nguyễn Thị D đi cùng Tạ Thanh V đến gặp Tổ công tác xin nhận lại xe mô tô 54S8-8307, không tham gia cùng V chống lực lượng thi hành công vụ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn không khởi tố Diễm về tội “Chống người thi hành công vụ” với vai trò đồng phạm là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Văn Nghĩa là người điều khiển xe mô tô 54S8-8307 vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ, hiện Ủy ban nhân dân xã Bình Thành đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nghĩa theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Tạ Thanh V phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Tạ Thanh V 06 (sáu) tháng 15 (mười lăm) ngày tù.

Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Tạ Thanh V nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố trả lại cho bị cáo Tạ Thanh V và chị Nguyễn Thị D 01 xe mô tô biển kiểm soát 54S8-8307, số máy 44S1007404, hiệu Yamaha Luvias, số khung RLCL44S10AY007403, đã qua sử dụng, bị cháy trơ khung.

(Vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 47/QĐ-VKSTS ngày 13/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn).

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo Tạ Thanh V phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ