vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bá P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Bá P 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Bá P phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bá P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS-ST
Ngày 19 – 01 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Kiên Nhẫn

2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Huỳnh Bá P (tên gọi khác: Xì E), sinh năm 1987 tại huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: đường LBB, phường TTH, quận TP, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Bá T và bà Trương Thị B; vợ Nguyễn Thị Thanh T1 và 01 người con sinh năm 2021.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Bị cáo Huỳnh Bá P có 03 tiền án cùng về tội Cướp giật tài sản.

Tại Bản án số 75/2009/HSST ngày 20/3/2009 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù, bị cáo chấp hành xong ngày 30/8/2010.

Tại Bản án số 186/2011/HSST ngày 17/8/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 04 năm tù, bị cáo chấp hành xong ngày 15/5/2014.

Tại Bản án số 05/2015/HSST ngày 08/12/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xử phạt bị cáo 05 năm tù, bị cáo chấp hành xong ngày 30/3/2020.

Nhân thân: Tại Bản án số 305/2006/HSST ngày 17/3/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Huỳnh Bá P 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trần Văn L, sinh năm 1949 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp PA, xã PT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm A, phường Thành P1, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Bá P đã có 03 tiền án cùng về tội Cướp giật tài sản, vừa chấp hành xong án phạt tù vào ngày 30/3/2020.

Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 14 giờ ngày 26/7/2021, Huỳnh Bá P và Nguyễn Quốc H cùng nhau đi trộm cắp tài sản. H điều khiển xe mô tô biển số 54L1-6980 chở P trên Quốc lộ 1 từ thị xã BM đi đến đường tỉnh 908 thuộc ấp PA, xã PT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu CITI, màu đỏ, biển số 64F2-0704 của ông Trần Văn L đang dựng cặp lộ không có người trông coi nên cả hai cùng thực hiện hành vi trộm cắp. H dừng xe cặp lộ, P đi lại gần xe mô tô biển số 64F2-0704. P quan sát thấy còn chìa khóa xe cắm trên ổ khoá nên lén lút lên xe nổ máy và điều khiển về thị xã BM bán cho một đối tượng tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 42/KL.ĐGTS ngày 14/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tam Bình, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu CITI, màu sơn đỏ, biển số 64F2-0704 có giá trị tại thời điểm bị mất trộm ngày 26/7/2021 là: 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng).

Ngoài ra, vào ngày 28/8/2021, Huỳnh Bá P còn bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã BM khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam về tội Trộm cắp tài sản, hiện Huỳnh Bá P đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã BM.

Xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô biển số 54L1-6980 của Nguyễn Quốc H sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản cùng với bị cáo Huỳnh Bá P, xe này do Trương Trường T1 (không rõ năm sinh), ngụ số 6, đường CH, Phường B, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên giấy đăng ký. Nguyễn Quốc H khai mua lại xe trên từ một người không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền 3.900.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Qua xác minh, Trương Trường T1 không có mặt tại địa chỉ nêu trên nên Cơ quan điều tra không làm việc được.

Chuyển vật chứng: 01 (một) xe mô tô biển số 54L1-6980 từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình tiếp tục tạm giữ, chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn L yêu cầu bị can Huỳnh Bá P phải bồi thường giá trị xe mô tô biển số 64F2-0704 theo kết luận định giá tài sản là: 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) và không có yêu cầu gì thêm. Hiện, bị can P chưa bồi thường cho bị hại.

Tại Cáo trạng số: 76/CT-VKSTB ngày 09/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Huỳnh Bá P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Bá P thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.

Bị hại ông Trần Văn L yêu cầu bị cáo Huỳnh Bá P phải bồi thường giá trị xe mô tô biển số 64F2-0704 với số tiền là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và không có yêu cầu gì thêm. Bị cáo P đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông L và không yêu cầu Nguyễn Quốc H cùng có trách nhiệm bồi thường.

Đối với đối tượng Nguyễn Quốc H, vào ngày 28/6/2020 bị Công an thị xã BM xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng). H đã chấp hành xong vào ngày 14/7/2020 (đến ngày 26/7/2021 được xem như chưa có tiền sự). Do đó, hành vi của H không cấu thành tội phạm Trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngày 22/11/2021, Công an huyện Tam Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) đối với H.

Đối với hành vi của đối tượng tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ) đã mua lại xe mô tô biển số 64F2-0704 do bị cáo Huỳnh Bá P và Nguyễn Quốc H trộm cắp mà có. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình không xác định được đối tượng nên không có cơ sở để xử lý.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Bá P về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bá P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Bá P mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 587, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Huỳnh Bá P và Nguyễn Quốc H liên đới bồi thường cho bị hại ông Trần Văn L số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Xử lý vật chứng: Giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình tiếp tục quản lý 01 (Một) xe mô tô biển số 54L1-6980 để xác minh làm rõ nguồn gốc xe và xử lý theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 14 giờ ngày 26/7/2021, tại ấp PA, xã PT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long bị cáo Huỳnh Bá P và đối tượng Nguyễn Quốc H đã có hành vi lén lút lấy trộm một xe mô tô nhãn hiệu CITI, màu đỏ, biển số 64F2-0704 trị giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) của ông Trần Văn L rồi đem bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo Huỳnh Bá P đã có tiền án về tội Cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm là tình tiết định tội đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo Huỳnh Bá P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là thanh niên có sức khỏe lại không chịu chí thú làm ăn. Bị cáo với thái độ thích thụ hưởng, lười lao động để có tiền phục vụ tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị các Tòa án xét xử 04 lần với 04 bản án trong đó có 03 bản án về tội Cướp giật tài sản, ba lần đi chấp hành án phạt tù nhưng bị cáo không sửa đổi, tiếp tục đi trộm cắp tài sản. Do đó, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo cho rằng chỉ một mình bị cáo sử dụng số tiền 500.000 đồng từ việc bán xe 64F2 – 0704, Nguyễn Quốc H không có sử dụng số tiền này và đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 6.000.000 đồng, không yêu cầu Nguyễn Quốc H phải bồi thường cho bị hại. Phía bị hại là ông Trần Văn L chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường, không yêu cầu Nguyễn Quốc H cùng có trách nhiệm bồi thường cho bị hại. Xét đây là sự tự nguyện của bị cáo, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần công nhận sự tự nguyện này.

Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Công nhận sự tự nguyện của bị cáo P đồng ý bồi thường cho bị hại Trần Văn L số tiền 6.000.000 đồng.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong thì phải chịu thêm phần tiền lãi trên số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với khoản thời gian chưa thi hành án xong.

Xử lý vật chứng: Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình tiếp tục quản lý 01 (Một) xe mô tô biển số 54L1 – 6980 để xác minh làm rõ nguồn gốc xe và xử lý theo quy định của pháp luật.

Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/12/2021.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bá P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Bá P 02 (Hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Huỳnh Bá P bồi thường cho bị hại ông Trần Văn L số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong thì phải chịu thêm phần tiền lãi trên số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với khoản thời gian chưa thi hành án xong.

3. Xử lý vật chứng: Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình tiếp tục quản lý 01 (Một) xe mô tô biển số 54L1 – 6980 để xác minh làm rõ nguồn gốc xe và xử lý theo quy định của pháp luật.

Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/12/2021.

4. Về án phí sơ thẩm:

4.1 Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Bá P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4.2 Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Bá P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ