- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆN HOẰNG HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HS-ST Ngày 13/01/2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Hòa.
Ông Đào Duy Chuyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với:
Bị cáo Bùi Trí T; sinh ngày 10/6/1988 tại Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Trí P và bà Trần Thị V; vợ, con: Chưa; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt và tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2021. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Anh Trương Văn M, sinh năm 1986. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn …, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn …, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10h15’ ngày 30/9/2021, tổ công tác Công an huyện Hoằng Hóa phối hợp với Công an xã N thực hiện nhiệm vụ tuần tra tại khu vực thôn …, xã N, huyện Ha phát hiện Bùi Trí T có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang trên tay trái của Bùi Trí T đang cầm 01 gói giấy ôly màu trắng, kích thước 4x4cm, bên trong có chứa các cục bột màu trắng; T khai nhận đó là ma túy mang theo để tìm chỗ sử dụng. Công an huyện Hoằng Hóa đã thu giữ tiến hành niêm phong gói giấy chứa ma túy và trưng cầu giám định; kiểm tra người T thu giữ 01 xilanh nhựa và 01 lọ nước cất. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã tiến hành thử test chất gây nghiện trong nước tiểu của Bùi Trí T, kết quả: Dương tính với MOP.
Kết luận giám định số 3006/PC09 ngày 04/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Các cục bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,145g loại Heroine.
Quá trình điều tra, Bùi Trí T khai nhận sáng ngày 10/9/2021 đã mua ma túy của một người thanh niên không quen biết ở xã Đ với số tiền 200.000 đồng; sau đó đi bộ ra cánh đồng thuộc thôn 2, xã N để tìm nơi sử dụng thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.
Vật chứng: 01 gói giấy ôly màu trắng, kích thước 4x4cm, bên trong có chứa các cục bột màu trắng; 01 xilanh nhựa loại 3ml và 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng, cơ quan điều tra đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa để chờ xử lý.
Cáo trạng số 06/CT-VKSHH ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Bùi Trí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Ngày 30/9/2021, Bùi Trí T có mua 200.000 đồng ma túy của một thanh niên không quen biết ở xã Hoằng Đông; sau đó đi bộ ra cánh đồng thuộc thôn ..., xã N để tìm nơi sử dụng thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.
Do đó giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên; sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Trí T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù; vật chứng tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 xilanh nhựa, 01 lọ nước cất và buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo bố chết, mẹ ốm đau, là lao động chính trong gia đình cho được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để được sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Ngày 30/9/2021 Bùi Trí T có mua 200.000 đồng ma túy ở xã Đ của một người thanh niên không quen biết; đến khoảng 10h15’ cùng ngày, khi đang đi bộ ra cánh đồng thuộc thôn 2, xã N, huyện H để tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện Hoằng Hóa phối hợp với Công an xã N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng vụ án. Kết luận giám định số 3006/PC09 ngày 04/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Các cục bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,145g loại Heroine.
Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy của bị cáo Bùi Trí T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo Bùi Trí T đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến xã hội, do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Do đó áp dụng quy định của điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[5] Trong vụ án này theo lời khai của bị cáo có mua ma túy của một người thanh niên, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi địa chỉ người thanh niên đó nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.
[7] Vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định 0,124g loại Heroine là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ; 01 xilanh nhựa, 01 lọ nước cất không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Trí T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 30/9/2021.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,124g loại Heroine là ma túy còn lại sau giám định; 01 xilanh nhựa, 01 lọ nước cất (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 19/BBGN ngày 05/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa).
Án phí: Buộc bị cáo Bùi Trí T chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Hoằng Hóa; - Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa; - Cơ quan THAHS huyện Hoằng Hóa; - Chi cục THADS huyện Hoằng Hóa; - Nhà Tạm giữ Công an huyện Hoằng Hóa; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Thắng |