vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 19/10/2021. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Tuán - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS-ST
Ngày 19-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đoàn Thân và bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:

Đỗ Văn T; sinh năm: 1973; tại: huyện V, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: khu phố N, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); có vợ là Trương Thị H (đã ly hôn); tiền sự: không;

Tiền án: 01 tiền án, tại bản án số 16/2014/HSST ngày 16/07/2014 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 18/03/2016 nhưng chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và tiền do phạm tội mà có.

Nhân thân:

- Ngày 22/03/2013, bị Công an xã V, huyện V xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 11/05/2013, bị bị Công an xã V, huyện V xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Năm 1999, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trung tâm giáo dục dạy nghề 05-06 để cai nghiện, chữa bệnh, giáo dục, học nghề và lao động bắt buộc, thời hạn 12 tháng.

- Năm 2010, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng.

- Ngày 26/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 23/07/2019.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2021 đến ngày 22/10/2021 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: chị Phạm Thị Tuyết V, sinh năm 1986; địa chỉ: số nhà 81, đường N, tiểu khu 4, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Trần Thị Hồng L, sinh năm 1984. Địa chỉ: tiểu khu 3, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn T là đối tượng nghiện ma túy nên thường xuyên đi lang thang xem ai sơ hở để trộm cắp tài sản. Vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 19/10/2021, T đi bộ trên đường N, thuộc tiểu khu 4, thị trấn H, nhìn thấy nhà chị Phạm Thị Tuyết V đang mở cửa cổng và cửa chính nên T đi vào nhà nhìn xung quanh không có ai, T tiếp tục đi vào phòng khách thấy bên phải cửa chính có 01 tủ để giầy, trên nóc tủ có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen nên T lén lút dùng tay phải lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần bên phải rồi đi ra ngoài. Sau đó, T mang đến cửa hàng điện thoại di động T ở tiểu khu 3, thị trấn H, huyện H cầm cố cho chị Trần Thị Hồng L, lấy tiền mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày T đến cơ quan Công an huyện Hà Trung đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ được: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen 64GB đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 61/KLĐG ngày 21/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Hà Trung kết luận: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen 64GB, đã qua sử dụng có trị giá 4.560.000 đồng.

Cáo trạng số 16/CT-VKSHT ngày 22/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015: tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, chị Trần Thị Hồng L yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 400.000 đồng, nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, chị Loan đề nghị xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận định giá, đủ cơ sở khẳng định: Do muốn có tiền để mua và sử dụng trái phép chất ma túy, nên vào khoảng 6 giờ 30 phút, ngày 19/10/2021, tại số nhà 81, tiểu khu 4, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Đỗ Văn T đã lén lút lấy trộm của chị Phạm Thị Tuyết V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen 64GB, đã qua sử dụng trị giá 4.560.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Mặt khác, bị cáo là đối tượng đã từng 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Nghiện ma túy”, 02 lần bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và 02 lần bị kết án, trong đó có 01 lần chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới, điều đó cho thấy bản chất khó cải tạo của bị cáo. Vì vậy, phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo có một tình tiết tăng nặng, tại bản án số 16/2014/HSST ngày 16/07/2014 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Sau khi phạm tội, bị cáo đầu thú và thành khẩn khai báo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với chị Trần Thị Hồng L đã có hành vi cầm cố chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen 64GB nhưng không biết là tài sản do Đỗ Văn T phạm tội mà có, nên không có căn cứ xử lý hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: bị cáo là đối tượng lang thang, nghiện ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về bồi thường dân sự: quá trình điều tra, chị Phạm Thị Tuyết V đã được nhận lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen 64GB. Mặc dù vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong lời khai có trong hồ sơ vụ án, chị Phạm Thị Tuyết V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên miễn xét.

Quá trình chuẩn bị xét xử, chị Trần Thị Hồng L không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 400.000 đồng, nên miễn xét.

. Về xử lý vật chứng: chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 màu đen 64GB là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị Tuyết V, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Vân là đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn T.

1. Về tội danh: bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 19/10/2021.

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành 4 án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ