vanban.org

Bản án 05/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị N đối với ông Tô Hồng P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị Nh - Tô Hồng Ph"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T T
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15-02-2022
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đ V H.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà C T H C;

2. Bà T T N P.

- Thư ký phiên tòa: Ông T V Q - thư ký Tòa án nhân dân huyện T T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T T tham gia phiên tòa: Ông Chau Pho Ly– Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2021 về việc " Tranh chấp ly hôn, nuôi con " theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 05/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị N, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số 491/24/9 Nguyễn Đình Chiểu, phường 2, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chổ ở hiện nay: số nhà 379, ấp Tân Quới, xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, (có đơn xin vắng mặt);

- Bị đơn: Ông Tô Hồng P, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp An Ninh, xã Lương Phi, huyện T T, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn bà Ngô Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Tô Hồng P qua tìm hiểu và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Lương Phi, huyện T T ngày 04/4/2016, sau khi cưới vợ chồng chung số tại thành phố Hồ Chí Minh, trong khoảng thời gian chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải nhau liên tục nên không khí gia đình rất nặng nề. Nhiều lần ông P đánh bà N và dọa sẽ giết bà nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay bà Ngô Thị N yêu cầu được ly hôn với ông Tô Hồng P.

Về con chung: Có một con chung tên Tô Gia H, sinh ngày 24/8/2016, từ khi ly thân đến nay con chung do ông P nuôi dưỡng, bà N đồng ý để ông P tiếp tục nuôi con sau khi ly hôn, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Tô

Hồng P đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện T T phát biểu ý kiến về việc

tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên còn để hồ sơ quá thời hạn chuẩn bị xét xử, tống đạt thông báo thụ lý cho nguyên đơn và bị đơn còn trễ hạn.

Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị N và ông Tô Hồng P có đăng ký kết

hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà N và ông P thường xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng đã ly thân thừ năm 2019 đến nay. Hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải hai lần nhưng ông P vắng mặt, chứng tỏ ông P không còn quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị N đối với ông Tô Hồng P.

Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Tô Gia H, sinh ngày

24/8/2016. Xét thấy, từ khi ly thân con chung do ông P nuôi dưỡng và bà N cũng thống nhất để ông P tiếp tục nuôi con. Xét thấy, giao con chung cho ông Tô Hồng P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Do ông Tô Hồng P vắng mặt, không có ý kiến nên sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác khi ông P có yêu cầu.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu toà án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Tại phiên tòa, ông Tô Hồng P vắng mặt. Nguyên đơn bà Ngô Thị N có đơn xin vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Tô Hồng P đã được Tòa án nhân dân huyện T T triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, bà N có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà N và ông Tô Hồng P.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Tô Hồng P có đăng ký hộ khẩu và thường trú tại ấp An Ninh, xã Lương Phi, huyện T T, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện T T thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Ngô Thị N và ông Tô Hồng P tự tìm hiểu nhau và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Lương Phi ngày 04/4/2016 đúng theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, trong quá trình chung sống bà N, ông P phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2019 đến nay là phù hợp với kết quả xác minh tại ấp An Ninh, xã Lương Phi xác định “...Từ năm 2019 đến nay không thấy bà N và ông P cùng về xã Lương Phi mà chỉ thấy ông P về một mình......”. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà N và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt, trong quá trình giải quyết vụ án Toà án hai lần triệu tập hoà giải nhưng ông P không đến cũng chứng minh rằng ông P không quan tâm đến tình trạng hôn nhân của vợ chồng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị N là có căn cứ.

Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Tô Gia H, sinh ngày 24/8/2016. Xét thấy, từ khi ly thân con chung do ông P nuôi dưỡng và bà N cũng thống nhất để ông P tiếp tục nuôi con. Xét thấy, nhằm đảm bảo quyền lợi của cháu Hân nên giao con chung cho ông Tô Hồng P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Do ông Tô Hồng P vắng mặt, không có ý kiến nên sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác khi ông P có yêu cầu.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Ngô Thị N khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí

dân sự hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông Tô Hồng P không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân

sự;

Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và

gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị N đối với ông Tô Hồng P.

Bà Ngô Thị N được ly hôn với ông Tô Hồng P.

Giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 04 tháng 4 năm 2016 của Ủy ban

nhân dân xã Lương Phi, huyện T T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Tô Gia H, sinh ngày 24/8/2016

cho ông Tô Hồng P nuôi dưỡng. Bà Ngô Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Tô Hồng P cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Ngô Thị N quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Ngô Thị N phải chịu 300.000

đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2019/0002885 ngày 28 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T T, bà Ngô Thị N đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.

Cỡ chữ