vanban.org

Bản án 05/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Hiện cháu Nguyễn Thanh T đã trưởng thành nên không xem xét. Giao cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 09/11/2010 giới tính nữ cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng chi phí nuôi con chung. Về tài sản chung: Tự thỏa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIÊN HẢI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST
Ngày 17 - 5 - 2022.
V/v tranh chấp xin ly hôn
và nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nghi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Hường

2. Ông Lê Việt Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 11/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2021, về việc “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 4 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp VH4, xã VHHN, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Tùng, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp TT, xã LS, huyện KH, Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 29/4/2021 nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị T và anh T tự nguyện chung sống với nhau năm 1999, hai bên có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LS ngày 02/02/2018. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, tính tình không còn phù hợp, chị T và anh T đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay chị T xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị T và anh T có 02 con chung tên: Nguyễn Thanh T, sinh năm 2002 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 09/11/2010. Hiện cháu T đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu T thì chị T xin được nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng chi phí nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết đã nhiều lần gửi văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Thanh T nhưng anh T không đồng ý nhận văn bản.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T khởi kiện tranh chấp xin ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Thanh T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải.

- Về sự vắng mặt của đương sự:

Bị đơn anh Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T xin được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ giữa bà T và ông T đã có nhiều mâu thuẫn trong nhiều năm và đã ly thân từ năm 2019 đến nay, hai bên không còn chăm sóc, giúp đỡ nhau. Từ đó nhận thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Từ những cơ sở nhận định trên, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị T và anh T có 02 con chung tên: Nguyễn Thanh T, sinh ngày 09/11/2010, giới tính nữ và Nguyễn Thanh T, sinh năm 2002. Hiện cháu Thảo đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu T đến tuổi trưởng thành, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này là có cơ sở bởi lẽ hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và cũng theo nguyện nguyện vọng của cháu T là được sống chung với chị T. Đồng thời chị T có thu nhập ổn định, cháu T là giới tính nữ nên giao cho chị T nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện tốt nhất cho cháu T. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng chi phí nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí sơ thẩm xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

2. Về con chung: Hiện cháu Nguyễn Thanh T đã trưởng thành nên không xem xét. Giao cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 09/11/2010 giới tính nữ cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng chi phí nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004851, ngày 05/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Như vậy chị T đã nộp xong.

6. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ