- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị N đối với anh Lương Ngọc Ch.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29/8/2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN – TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mã Hồng Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Hoàn
2. Bà Hà Thị Bích Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Toản - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Hoàng Thị N – sinh năm 1986
Nơi cư trú: Xóm N, xã Th, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
(Có mặt)
- Bị đơn: Lương Ngọc Ch – sinh năm 1988
Nơi cư trú: Xóm N, xã Th, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 6 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Hoàng Thị N trình bày: chị N và anh Ch kết hôn ngày 11/9/2007, kết hôn tự nguyện, được tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Sau khi kết hôn chị N và anh Ch chung sống hòa thuận hạnh phúc, tuy nhiên đến tháng 10/2009 đã nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Ch đã có hành vi bạo lực, đánh đập chị N nhiều lần. Sau khi xảy ra mâu thuẫn, hai anh chị đã được gia đình khuyên giải nhưng mâu thuẫn không khắc phục được. Hai anh chị đã ly thân từ ngày 18/12/2015 cho đến nay. Từ khi ly thân hai anh chị không liên lạc, thăm nom, chăm sóc nhau cũng như không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng, chị N và anh Ch có 02 (hai) con chung, con chung tên là Lương Đức Nh – sinh ngày 13/8/20yy, giới tính: Nam và Lương Bảo Ch – sinh ngày 05/6/20xx, giới tính: Nữ. Khi ly hôn chị N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lương Bảo Ch, anh Ch trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lương Đức Nh, không đặt ra việc cấp dưỡng cho con. Chị N xác định tài sản chung không có, nợ chung không có nên không chị yêu cầu tòa án giải quyết.
Anh Lương Ngọc Ch đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo Thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Ch không nhận văn bản tố tụng của Tòa án và không có lời khai.
Kết quả xác minh tại xóm N, xã Th cho thấy: anh Lương Ngọc Ch và chị Hoàng Thị N đã nảy sinh mâu thuẫn nhiều năm, anh Ch nhiều lần đánh đập vợ. Anh Ch và chị N đã sống ly thân nhiều năm. Cháu Lương Đức Nh hiện nay sinh sống cùng anh Ch và ông bà nội, cháu Lương Bảo Ch sinh sống cùng mẹ và ông bà ngoại.
Tại phiên tòa, chị N giữ nguyên yêu cầu ly hôn, không sửa đổi bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lương Bảo Ch cho đến khi con thành niên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An tham gia tố tụng tại phiên tòa nhận định:
I. Việc tuân theo pháp luật tố tụng
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại điều 48, 195,196,198, 203 BLTTDS năm 2015; Xác định tư cách tố tụng, giao nhận văn bản tố tụng, hồ sơ vụ án thực hiện theo đúng quy định của BLTTDS. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về phiên tòa sơ thẩm.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, được quy định tại điều 70, 71, 72 BLTTDS năm 2015.
II. Về việc giải quyết vụ án
Chị N và anh Ch kết hôn tự nguyện trên cơ sở tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 11/9/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Từ tháng 10/2009 nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Ch có hành vi bạo hành gia đình nên chị N yêu cầu ly hôn. Qua quá trình xác minh thu thập chứng cứ nhận thấy lời khai của chị N là có căn cứ. Hành vi bạo hành của anh Ch khiến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N và anh Ch có 02 con chung, con chung tên là Lương Đức Nh – sinh ngày 13/8/20yy, giới tính: Nam và Lương Bảo Ch – sinh ngày 05/6/20xx, giới tính: Nữ. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình, xử chấp nhận yêu cầu của chị N; giao cháu Lương Bảo Ch cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lương Đức Nh cho anh Ch trực tiếp nuôi dưỡng; không giải quyết về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh Ch tại phiên toà hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nội dung vụ án là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Anh Lương Ngọc Ch đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm N, xã Th, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân huyện Thạch An thụ lý vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Lương Ngọc Ch đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Ch vắng mặt tại các phiên họp. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngày 18/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Thạch An mở phiên tòa, tuy nhiên anh Ch vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Anh Ch đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Theo Giấy chứng nhận kết hôn chị Hoàng Thị N và anh Lương Ngọc Ch đăng ký kết hôn ngày 11/9/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Hai anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tìm hiểu. Như vậy, quan hệ giữa chị N và anh Ch là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Về quá trình chung sống vợ chồng: Sau khi kết hôn chị N và anh Ch chung sống hòa thuận hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N là do anh Ch có hành vi bạo hành vợ nhiều lần dẫn đến thương tích. Qua việc xác minh tại địa phương cho thấy lời khai của chị N là có căn cứ. Sau khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay, Tòa án đã cho các bên đương sự thời gian cũng như cơ hội để hòa giải, khắc phục mâu thuẫn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, anh Ch không hợp tác tham gia tố tụng, không hợp tác với Tòa án trong việc hòa giải mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy chị N và anh Ch đã nảy sinh mâu thuẫn từ lâu, nguyên nhân là do anh Ch có hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1, 3 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N.
Về con chung: Chị N và anh Ch có 02 (hai) con chung, con chung tên là Lương Đức Nh – sinh ngày 13/8/20yy, giới tính: Nam và Lương Bảo Ch – sinh ngày 05/6/20xx, giới tính: Nữ. Khi ly hôn chị N đề nghị Tòa án xử giao cháu Lương Bảo Ch cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lương Đức Nh cho anh Ch trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của con chưa thành niên theo quy định của Luật hôn nhân gia đình, cháu Lương Đức Nh có nguyện vọng được sinh sống cùng với bố, được bố trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Lương Bảo Ch có nguyện vọng được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Xét điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con, quyền lợi về mọi mặt của cháu, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao cháu Ch cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Nh cho anh Ch nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nguyện vọng của các cháu nên cần được chấp nhận.
Về cấp dưỡng cho con: Chị N không yêu cầu xem xét về cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử nhận thấy chị N và anh Ch mỗi người trực tiếp nuôi một con, nên không buộc các đương sự phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị N đối với anh Lương Ngọc Ch.
2. Về con chung: Giao con chung Lương Đức Nh – sinh ngày 13/8/20yy, giới tính: Nam cho anh Lương Ngọc Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con thành niên. Giao con chung Lương Bảo Ch – sinh ngày 05/6/20xx, giới tính: Nữ cho chị Hoàng Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con thành niên.
Về cấp dưỡng cho con: Không đặt ra việc cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đ ng) án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Hoàng Thị N đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đ ng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000947 ngày 21/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Chị Hoàng Thị N đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Hoàng Thị N có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Lương Ngọc Ch vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát ND H.Thạch An; - Tòa án ND tỉnh Cao Bằng; - Chi cục THADS H. Thạch An; - UBND xã Th; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mã Hồng Nhung |