vanban.org

Bản án 05/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Mỹ L ly hôn với anh Phạm Tiến N.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ L có quyền trực tiếp nuôi con chung Phạm Nguyễn Liên K, sinh ngày 07/6/2005 và Phạm Nguyễn Kiều H, sinh ngày 24/10/2007. Ghi nhận chị L tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Phạm Tiến N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có n…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Mỹ L ly hôn với anh Phạm Tiến N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 01 - 2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – BẾN TRE

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Lâm

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Hữu Phước

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Vân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 337/2021/TLST - HNGĐ ngày 20/10/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2021/QĐST - HNGĐ ngày 10/12/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2021/QĐST – HNGĐ ngày 28/12/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1985 (vắng mặt – có đơn)

Địa chỉ: ấp AT, xã AT, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

Bị đơn: Anh Phạm Tiến N, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp AT, xã AT, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

Chị và anh Phạm Tiến N kết hôn năm 2004 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AT (Ba Tri – Bến Tre). Sau khi kết hôn hai bên sống hạnh phúc tại xã AT được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do hai bên tính tình không hợp nhau, thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi, từ đó tình cảm vợ chồng rạn nứt. Ngoài ra, anh N thường xuyên đánh đập chưởi bới chị. Anh N cũng không phụ lo kinh tế gia đình để nuôi con chung. Từ tháng 08 năm 2021 thì hai bên đã chính thức sống ly thân với nhau cho đến nay, trong thời gian sống ly thân hai bên không L lạc hàn gắng tình cảm vợ chồng, hai bên cũng không còn quan tâm đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Tiến N.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có hai con chung là Phạm Nguyễn Liên K, sinh ngày 07/6/2005 và Phạm Nguyễn Kiều H, sinh ngày 24/10/2007 hiện đang sống với chị. Chị hiện đang làm công nhân ở Công ty may Tỷ Thành, có thu nhập lương trung bình hàng tháng là 6.000.000 đồng, chị có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên yêu cầu được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung, không yêu cầu anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình tố tụng vụ án, bị đơn anh Phạm Tiến N không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị L, không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri trình bày quan điểm:

- Về thủ tục: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS; bị đơn vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa xét xử nên chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS.

- Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Phạm Tiến N.

+ Về con chung: Giao con chung Phạm Nguyễn Liên K, sinh ngày 07/6/2005 và Phạm Nguyễn Kiều H, sinh ngày 24/10/2007 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ghi nhận chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

+ Về nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về thủ tục: Bị đơn anh Phạm Tiến N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng anh N vắng mặt không lý do. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh N.

Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Chị L và anh N cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã AT, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre ngày 01/02/2005 nên là hôn nhân hợp pháp, trong thời gian chung sống hai bên đã xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm dẫn đến mất hạnh phúc vợ chồng, nhưng hai bên không có biện pháp hòa giải tháo gỡ mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm. Anh N biết việc chị L yêu cầu ly hôn với anh nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã nhiều lần tiến hành tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến muốn hàn gắn tình cảm với chị L. Điều đó thể hiện anh N đã không có thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị L và anh N là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị L với anh N là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: Quá trình chung sống, chị L và anh N có hai con chung là Phạm Nguyễn Liên K, sinh ngày 07/6/2005 và Phạm Nguyễn Kiều H, sinh ngày 24/10/2007. Hiện con chung đang sống cùng chị L. Xét yêu cầu tiếp tục nuôi con của chị L là có cơ sở, đảm bảo được sự ổn định cho cuộc sống, việc học hành cũng như tâm sinh lý của cháu K, cháu H và cũng phù hợp với nguyện vọng muốn sống với mẹ của cháu K và cháu H. Do đó, HĐXX chấp nhận giao con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Chị L tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên được HĐXX ghi nhận.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị Mỹ L phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Mỹ L ly hôn với anh Phạm Tiến N.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ L có quyền trực tiếp nuôi con chung Phạm Nguyễn Liên K, sinh ngày 07/6/2005 và Phạm Nguyễn Kiều H, sinh ngày 24/10/2007. Ghi nhận chị L tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phạm Tiến N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị Mỹ L phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003068 ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị L đã nộp xong.

Chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Phạm Tiến N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ