vanban.org

Bản án 05/2021/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Buộc Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại S V phải trả cho Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa số tiền nợ mua xăng dầu của Hợp đồng mua bán xăng dầu số 02/APP1/SV/2019 – HĐBBXD ngày 01/10/2019 là 141.614.186 đ ( Trong đó khoản tiền nợ gốc – tiền nợ mua dầu là 126.067.600đ; Khoản tiền lãi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "KDTM"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
  • Căn cứ chính? Điều 50 Luật Thương mại; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/ KDTM - ST
Ngày: 07/ 9/ 2021
V/v: “ Tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa”;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Loan

2. Bà Hoàng Thị Hạnh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà:

Bà Lê Thị Mai – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

Ngày 07 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 59/2021/TLST-KDTM ngày 01 tháng 7 năm 2021 về việc: “ Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2021/QĐXXST- KDTM ngày19 tháng 8 năm 2021 giữa:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần xăng dầu AP Thanh Hóa ; Địa chỉ: Số 227 đường Âu Cơ, P. Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa;

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Trung D – Giám đốc

- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị T - Nhân Viên

Bị Đơn: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và Thương mại S V;

Địa chỉ: Lô G MBQH số 80/XD –UBND, khu đô thị Bắc CH, phường Đ T, TP. Thanh Hóa.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Kim D – Giám đốc

Nơi cư trú: Lô A91. Khu đô thị Bắc CH, phường Đ T, thành phố Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt các đương sự ( Người đại diện của nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/10/2019 Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa đã ký hợp đồng mua bán xăng dầu số 02/APP1/SV/2019 – HĐBBXD với Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và Thương mại S V.

Ngày 18/10/2019 Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa đã giao hàng dầu DO 0,05% S-II với số lượng là 8.165 lít x 14.036.3636đ/lít cho Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và Thương mại SV. Tổng số tiền phải thanh toán là 126.067.600đ ( Bao gồm cả thuế GTGT 10%), với hình thức giao hàng tay ba ( Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa nhận hàng của Công ty cổ phần phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ, sau đó Công ty cổ phần phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ giao hàng trực tiếp cho Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và Thương mại S V. Do vậy trên biên bản bàn giao nhận vật tư hàng hóa ngày 18/10/2019 với Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và Thương mại SV, bên giao hàng đứng tên Công ty cổ phần phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ.

Theo hợp đồng mua bán xăng dầu đã ký giữa hai bên, Công ty cổ phẩn xăng dầu APP1 Thanh Hóa thỏa thuận cho Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và Thương mại SV nợ tiền hàng trong vòng 15 ngày kể từ ngày giao hàng, nếu quá hạn thanh toán thì công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại SV phải chịu lãi suất theo mức lãi suất của ngân hàng BIDV tại thời điểm quá hạn.

Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa đã nhiều lần gửi văn bản đề nghị thanh toán và lãnh đạo hai bên gặp gỡ để đôn đốc việc thanh toán số tiền trên , nhưng Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại SV vẫn không trả tiền cho Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa.

Do đó để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa khởi kiện và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa giải quyết buộc Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại SV trả cho Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa gồm: Tiền mua dầu: 126.067.600đ; tiền lãi chậm trả tính từ ngày 02/11/2019 đến ngày 07/9/2021 ( ngày xét xử) với mức lãi suất 6,5% /năm là 15.546.586đ. Kể từ sau ngày xét xử Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại Sơn Vũ phải tiếp tục chịu lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng mua bán xăng dầu đã ký giữa hai bên.

Tại các bản khai và hòa giải phía bị đơn trình bày:

Ngày 18/10/2019, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại SV có giao nhận 8.165 lít dầu, nhưng do tình hình dịch bệnh CoV diễn biến phức tạp từ đầu năm 2020 đến nay, làm ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của mọi người dân. Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại SV là một đơn vị kinh doanh thương mại và vận tải đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch bệnh Cov. 19 gây ra như : Công việc làm ăn giảm sút, hoạt động vận tải ít việc, xe phải nằm nhà trong nhiều ngày, tháng, công nợ đối tác thu rất khó khăn và nhỏ giọt, trong khi các chi phí vẫn phải chi trả hàng tháng như: Chi phí đầu tư, bảo hiểm, tiền lương và các chi phí khác.

Mặc dù tình hình thực trạng khó khăn như vậy, nhưng đơn vị cũng sẽ cân đối để có kế hoạch chi trả một phần nợ cụ thể: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại Sơn Vũ xin được khoản nợ gốc thành 04 kỳ; từ ngày 01/9/2021 đến 01/9/2022 ( 03 tháng / 01 kỳ) và xin được miễn khoản tiền lãi.

Quá trình giải quyết vụ án: Phía nguyên đơn không đồng ý để phía bị đơn được trả nợ thành nhiều kỳ.

Tại phiên tòa vắng mặt các bên đương sự và các bên đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về Tố tụng:

Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Bị đơn có trụ sở trên địa bàn thành phố Thanh Hóa. Do đó đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, theo quy định tại Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Các bên đương sự đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ Khoản 1 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

- Đối với yêu cầu trả khoản tiền nợ mua dầu:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bên trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định hiện nay Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại SV đang nợ Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa số tiền mua dầu theo Hợp đồng mua bán xăng dầu số 02/APP1/SV/2019 – HĐBBXD ngày 01/10/2019; Biên bản giao nhận vật tư hàng hóa ngày 18/10/2019 là 126.067.600đ. Vì vậy cần buộc Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại SV phải có trách nhiệm trả số tiền nợ mua dầu cho Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa là phù hợp với quy định tại Khoản 1,2 Điều 50 Luật thương mại.

- Đối với yêu cầu khoản tiền lãi: Tại Hợp đồng mua bán xăng dầu số 02/APP1/SV/2019 – HĐBBXD ngày 01/10/2019 các bên thỏa thuận Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và Thương mại S V nợ tiền hàng trong vòng 15 ngày kể từ ngày giao hàng, nếu quá hạn thanh toán thì công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại S V phải chịu lãi suất theo mức lãi suất của ngân hàng BIDV tại thời điểm quá hạn. Theo văn bản của BIDV thì mức lãi xuất tại thời điểm từ năm 2019 đến 2021 dao động từ 10,5% đến 11%. Nhưng Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa chia sẽ khó khăn cùng Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại SV trong đợt đại dịch cov 19, do đó chỉ yêu cầu Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại SV phải trả mức lãi xuất chậm trả là 6,5%/năm, tính từ ngày 02/11/2019 đến ngày 07/9/2021 ( ngày xét xử) là 15.546.586đ . Xét yêu cầu về khoản tiền lãi chậm trả của Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa là phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật Thương mại và phù hợp với thực tế, nên chấp nhận.

[ 3]Về án phí :

Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại S V phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 NQ 326/2016/ UBTVQH 14 là 141.614.186 đ x 5% = 7.080.709đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1,2 Điều 50; Điều 306 Luật Thương mại;

Khoản 2 Điều 26 NQ 326/2016/ UBTVQH 14.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Buộc Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại S V phải trả cho Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa số tiền nợ mua xăng dầu của Hợp đồng mua bán xăng dầu số 02/APP1/SV/2019 – HĐBBXD ngày 01/10/2019 là 141.614.186 đ ( Trong đó khoản tiền nợ gốc – tiền nợ mua dầu là 126.067.600đ; Khoản tiền lãi chậm trả tính đến ngày 07/9/2021( ngày xét xử) là 15.546.586đ).

Kể từ sau ngày tuyên bản án sơ thẩm, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại SV phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi chậm trả trên khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng mua bán xăng dầu số 02/APP1/SV/2019 – HĐBBXD ngày 01/10/2019.

4. Về án phí: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại S V phải chịu 7.080.709đ ( Bảy triệu không trăm tám mươi ngàn bảy trăm linh chín đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Trả lại cho Công ty cổ phẩn xăng dầu AP Thanh Hóa toàn bộ số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 3.473.000đ theo biên lai thu số AA/2019/ 0012622 ngày 30/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ