- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2021/HSST Ngày: 28/1/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Hải và ông Cù Xuân Phú.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 28 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2021/TLST-HS, ngày 22 tháng 12 năm 2020; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 1 năm 2021 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Trần Văn T; sinh ngày: 12/5/1991; tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị L; vợ con: Chưa; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/10/2020 và chuyển tạm giam từ ngày 25/10/2020 tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Văn T2. Sinh ngày: 20/8/1987. Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Quốc V. Sinh ngày: 11/12/1966. Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân là người nghiện ma túy, sáng ngày: 22/10/2020, Trần Văn T bắt xe bus đến khu vực Đại học V, tỉnh Nghệ An để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, T gặp một người đàn ông lái xe ôm (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi mua 1.500.000 đồng tiền hồng phiến. Người đàn ông đồng ý và bảo T đứng chờ. Khoảng 15 phút sau người này quay lại đưa cho Toại một lọ nhựa trong suốt, có đường kính 3,5cm, bên trong chứa hồng phiến. T cầm lấy bỏ vào túi quần, trả tiền cho người lái xe ôm và đón xe bus đi về nhà. Tối cùng ngày, T mở lọ nhựa ra để kiểm tra thì thấy bên trong có 01 gói ni lông màu vàng đựng 20 viên hồng phiến và 01 túi ni lông màu đen bên trong đựng 05 viên hồng phiến. T lấy 04 viên hồng phiến trong gói ni lông đên ra sử dụng hết, còn 01 viên T gói trong túi ni lông màu đen, rồi cùng túi ni lông màu vàng đựng 20 viên hồng phiến đem bỏ vào lọ nhựa như cũ. Đến khoảng 14 giờ, ngày 23/10/2020, anh Võ Văn T2 thuê Tọai đi chở vật liệu xây dựng. Lúc đi T mang theo lọ nhựa bên trong đựng 21 viên hồng phiến bỏ vào trong túi quần bên phải trước khi đi lên nhà anh T2, rồi điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hoa Mai, biển kiểm soát 38C – 022B của anh T2 đi chở vật liệu xây dựng. Đến 16 giờ cùng ngày, khi đang điều khiển xe ô tô tải, biển kiểm soát 38C – 022B đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn L, xã S, huyện H thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của T đang mặc có 01 lọ nhựa, bên trong có 01 gói ni lông màu vàng đựng 20 viên nén màu hồng và 01 gói ni lông màu đen đựng 01 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY. Trần Văn T khai nhận toàn bộ số viên nén màu hồng nói trên là hồng phiến, T mua về để sử dụng thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang.
* Tại bản Kết luận giám định số 204/GĐMT/ PC09, ngày 25/10/2020 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận:
- 20 viên nén màu hồng, bên trên bề mặt mỗi viên đều có ký hệu chữ WY được đựng trong 01 gói ni lông màu vàng (Ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,0106 gam. (Methamphetamine).
- 01 viên nén màu hồng, bên trên bề mặt mỗi viên có ký hệu chữ WY được đựng trong 01 gói ni lông màu đen (Ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1008 gam. (Methamphetamine).
* Vật chứng thu giữ đã trả lại chủ sở hữu:
- 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Hoa Mai, biển kiểm soát 38C – 022.98.
* Vật chứng thu giữ đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện H gồm:
- 01 phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đối tượng Trần Văn T, bên trong đựng 1,7104 gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định cùng toàn bộ vỏ, bao gói.
- 01 lọ nhựa trong suốt, đường kính khoảng 3,5cm.
Tại bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS-HS, ngày 21 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Trần Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt Trần Văn T mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy:
- 1,7104 gam Methamphetamine được đựng trong 01 phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đối tượng Trần Văn T, cùng toàn bộ vỏ, bao gói.
- 01 lọ nhựa trong suốt, đường kính khoảng 3,5cm.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 buộc Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn T2; người chứng kiến anh Trần Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của anh Tâm và anh Việt không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ án nên căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự , xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định hành vi Trần Văn T mua 2,1114 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có gì oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Methamphetamine là chất gây nghiện, khi con người sử dụng sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh nòi giống con người. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo; ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
Đối với người đàn ông lái xe ôm bán ma túy cho Trần Văn T ở cổng Đại học V do không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Đối với chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Hoa Mai, biển kiểm soát 38C – 022B, Kèm theo 01 giấy đăng ký xe. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là của anh Võ Văn T2. Anh T2 là người thuê Trần Văn T điều khiển xe chở nguyên vật liệu và không biết trong người bị cáo T có tàng trữ hồng phiến và Cơ quan Điều tra Công an huyện H đã trả lại chiếc xe cho anh T2 nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về vật chứng vụ án:
- 1,7104 gam Methamphetamine là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 lọ nhựa trong suốt, đường kính khoảng 3,5cm là công cụ, phương tiện phạm tội, đồng thời là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn T2 được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2 điều 106; khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 23/10/2020).
- Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 1,7104 gam Methamphetamine được đựng trong một phong bì thư dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và bị cáo Trần Văn T, cùng toàn bộ vỏ, bao gói; 01 (Một) lọ nhựa trong suốt, đường kính khoảng 3,5cm (Đặc điểm các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2020).
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn T2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án chính.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - Công an tỉnh Hà Tĩnh (PV 06); - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Cơ quan THAHS Công an huyện H; - Chi cục THADA huyện H; - Bị cáo; - UBND xã S; - Lưu hồ sơ, VP. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊNTÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Dung |