- Tranh chấp gì? án hình sự — "tội sử dụng mạng máy tính - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Thái H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2021/HS-ST Ngày: 04-03-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phước Quảng.
Bà Võ Thị Nguyệt Ánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 03 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Phan Thái H, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2001, tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Đăng M, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964, đều trú tại: thôn H, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Quảng Trị từ ngày 16/12/2020 đến nay. (Có m t tại phiên tòa).
- Bị hại: Chị Dương Thị Diệu L, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ 4, phường N, thành phố Hà Tĩnh. (Vắng m t)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Anh Bùi Đức T, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị. (Vắng m t)
2/ Anh Phan Đăng T, sinh năm 1994; địa chỉ: 40 Phố H, HB, quận H, Hà Nội. (Vắng m t)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào thời gian giữa tháng 4/2020, Phan Thái H đến quán internet “Đào Hoa Viên” thuộc xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị, sử dụng tài khoản Facebook “Thái H” để tìm kiếm, đăng nhập và chiếm đoạt quyền quản trị tài khoản Facebook “Nguyễn Khánh L” do chị Nguyễn Khánh L (sinh năm 1993, trú tại số 14, ngõ 252 TS, quận Đ, thành phố Hà Nội) là chủ tài khoản. Tiếp đó, H đổi mật khẩu, chiếm quyền sử dụng và nghiên cứu lịch sử các cuộc nói chuyện về việc mua, bán hàng online của tài khoản Facebook “Nguyễn Khánh L”.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/4/2020, Phan Thái H và Bùi Đức T đến nhà nghỉ Đồng X (thuộc xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị) thuê phòng để nghỉ. Tại đây, H hỏi mượn máy điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đỏ của Thông để chơi game thì Thông đồng ý. H dùng điện thoại mượn của Thông đăng nhập vào tài khoản Facebook “Nguyễn Khánh L”, nhắn tin hỏi mua máy rửa m t của tài khoản Facebook “Dương Diệu L” do chị Dương Thị Diệu L là chủ tài khoản. Sau khi thỏa thuận giá cả mua bán, theo yêu cầu của Phan Thái H, chị Dương Thị Diệu L cung cấp cho Phan Thái H tài khoản của chị số 0491000038818 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Thăng Long (viết tắt Vietcombank Thăng Long). Phan Thái H soạn tin nhắn có nội dung: “Thong bao so du Vietcombank: 22/04/2020. TK: 0491000038818. Thay đoi: +329.000VNĐ. Ma GD: 910 - 697 (Vietcom bank of Vietnam) Western Union. Vui long vao Website: https://xacnhangiaodichhh.weebly.com/westernunionwwu.html” và gửi tin nhắn trên cho tài khoản Facebook “Dương Diệu L”. Khi chị Dương Thị Diệu L truy cập vào Website trên, làm theo hướng dẫn thì các thông tin tài khoản, mật khẩu banking và mã OTP mà chị Dương Thị Diệu L nhập vào được chuyển đến tài khoản cá nhân của Phan Thái H trên trang Website:weebly.com. Phan Thái H nhập các thông tin lấy được vào dịch vụ Internet Banking được cài sẵn trên máy điện thoại và thực hiện thành công giao dịch chuyển tiền 20.000.000 đồng từ tài khoản của chị Dương Thị Diệu L đến tài khoản số 3909205121101 mở tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (gọi tắt là Agribank) chi nhánh thị xã Quảng Trị của Phan Đăng T mà Phan Thái H đã liên hệ, mượn Thịn từ trước. Sau đó, Phan Đăng T đến rút tiền tại cây ATM Agribank ở thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong đã đưa cho Phan Thái H số tiền 20.000.000 đồng, Phan Thái H đã đưa lại cho Phan Đăng T 3.500.000 đồng số tiền mà Phan Thái H đã nợ Phan Đăng T từ trước, số tiền còn lại 16.500.000 đồng Phan Thái H đã sử dụng và tiêu xài cho cá nhân hết.
Về vật chứng vụ án: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đỏ mà H mượn của Thông sử dụng để chiếm đoạt 20.000.000 đồng của chị L, H đã đánh mất ở thành phố Đà Nẵng. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả.
Về dân sự: Ông Phan Đăng M (bố của Phan Thái H) đã thỏa thuận và bồi thường đủ 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) cho chị Dương Thị Diệu L. Bị hại không có yêu cầu gì thêm về m t dân sự.
Phan Đăng T là người cho Phan Thái H mượn tài khoản ngân hàng để H chuyển tiền và đi rút tiền giúp cho H; Bùi Đức T là người cho Phan Thái H mượn điện thoại di động để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng đều không biết mục đích phạm tội của H và không biết đó là tiền do phạm tội mà có. Do đó Thịn và Thông không chịu trách nhiệm hình sự.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-TXQT ngày 22/01/2021, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Phan Thái H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thái H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thái H từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Áp dụng nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phan Thái H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét lời khai nhận tội tại phiên tòa hôm nay của bị cáo Phan Thái H là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Ngày 22/4/2020 tại nhà nghỉ Đồng X (thuộc xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị), Phan Thái H đã có hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook, mạng máy tính để nhắn tin lừa đảo, có được các thông tin về số tài khoản, mật khẩu banking và mã OTP để chiếm đoạt 20.000.000 đồng trong tài khoản số 0491000038818 mở tại Vietcombank Thăng Long của chị Dương Thị Diệu L. Hành vi của Phan Thái H là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận quần chúng nhân dân sinh sống trên địa bàn. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội“Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị truy tố bị cáo Phan Thái H về tội“Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” tại điểm a, khoản 1, Điều 290 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Cùng với sự phát triển của công nghệ và truyền thông thì tội phạm về sử dụng công nghệ cao, sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác trên toàn xã hội ngày càng gia tăng làm ảnh hưởng đến lợi ích công cộng và lợi ích quốc gia trong lĩnh vực thông tin và an toàn mạng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà bị cáo trực tiếp xâm hại đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần xử bị cáo nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.
Tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng n ng: Bị cáo không có tình tiết tăng n ng.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Thái H nhận thức được sai phạm của mình nên thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. M t khác, bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị hại có đơn đề nghị xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có bố đẻ là ông Phan Đăng M đã tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế. Nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Bị cáo Phan Thái H có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có chỗ ở ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần xử phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo Phan Thái H hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Quảng Trị, cần ra quyết định trả tự do tại phiên tòa cho bị cáo Phan Thái H theo quy định tại khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với Bùi Đức T là người đã đi cùng Phan Thái H và đã cho Phan Thái H mượn điện thoại di động của mình để chơi game, nhưng Bùi Đức T không hề biết việc Phan Thái H sử dụng điện thoại của mình vào mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Viện kiểm sát không truy tố anh Bùi Đức T chịu trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với Phan Đăng T là người cho Phan Thái H biết số tài khoản ngân hàng của mình và trực tiếp đi rút tiền tại ATM giao cho Phan Thái H, nhưng không hề biết về việc Phan Thái H đã lấy số tài khoản ngân hàng của mình để chiếm đoạt tiền của người khác. Viện kiểm sát không truy tố Phan Đăng T chịu trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Phan Thái H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thái H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 290; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Thái H 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án 04/3/2021.
Giao bị cáo Phan Thái H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo có vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Phan Thái H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng m t tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND thị xã Quảng Trị; - Công an thị xã Quảng Trị; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS thị xã Quảng Trị; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Võ Thị Nguyệt Ánh Nguyễn Phước Quảng | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Hạnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hạnh |