vanban.org

Bản án 05/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 20/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 36 (ba mươi sáu) tháng tù của bản án số 07/2020/HSST ngày 27/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình H trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 05/2021/HS-ST
Ngày 20-01-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU – TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bẩy.

2. Ông Bùi Quốc Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Thúy Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2021, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2020/QĐXX-ST ngày 14 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2020/HSST-QĐ ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 10 tháng 10 năm 1986, tại: Huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/cư trú hiện nay: Thôn Đ, thị trấn P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên bố: Nguyễn Đình H1; Sinh năm: 1957. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N; Sinh năm: 1959. Vợ, con: Chưa có. Tiền án: + Năm 2010, bị TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị TAND quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung là 36 tháng tù. Ngày 03/12/2012, chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. + Năm 2014, bị TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 13/5/2016, chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. + Năm 2017, bị TAND thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/9/2019, chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/8/2020, bị Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Võ khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 27/10/2020, bị Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Bùi Thanh H, sinh năm 1991; Địa chỉ: khu 4, phường T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Đình H1 (bố đẻ của bị cáo H), trú tại thôn Đ, thị trấn P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

* Người làm chứng: Nguyễn Thị D, sinh năm 1969; Địa chỉ: khu 4, phường T, thị xã Đ; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 17/7/2020, trong khi đang chờ bắt xe khách từ thị xã Đ về huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Đình H phát hiện nhà ở của gia đình anh Bùi Thanh H ngay cạnh đường nội thị thuộc khu 4, phường T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh không khoá cửa và không có ai trông giữ, nên Hh nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Ngay sau đó, H đi vào trong nhà anh H, thấy phòng khách có dựng 02 (hai) xe mô tô gồm xe mô tô Honda Wave màu trắng biển kiểm soát 14Z1 – 410.01 và xe mô tô Honda Airblade. H tiếp tục mở cửa đi vào phòng ngủ bên trong, thấy anh H đang nằm ngủ trên đệm đặt dưới nền nhà, H quan sát thấy ở trên mặt tủ gần vị trí anh H ngủ có 01 (một) chiếc điện thoại iphone XS, 01 (một) đồng hồ màu trắng, 01 (một) ví giả da và 01 chùm chìa khoá. H lấy điện thoại, đồng hồ cùng ví da nêu trên cho vào túi quần, rồi cầm chùm chìa khoá ra ngoài phòng khách mở khoá chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 14Z1 – 410.01 dắt ra ngoài cửa, nổ máy rồi đi về hướng thành phố C, tỉnh Hải Dương. Khi đến khu vực đền Kiếp Bạc, thuộc xã Hưng Đạo, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, do chiếc điện thoại liên tục đổ chuông nên H đã vứt chiếc điện thoại vào lề đường rồi đi về thành phố B thuê một nhà nghỉ (không rõ địa chỉ) để ngủ. Tại đây, H kiểm tra chiếc ví vừa trộm cắp thấy có một số giấy tờ như: Chứng minh nhân dân; giấy phép lái xe hạng FC, A1; giấy đăng ký mô tô biển kiểm soát 14Z1 – 410.01 (đều mang tên Bùi Thanh H) và số tiền gồm 03 (ba) tờ tiền loại 500.000đ, 01 (một) tờ tiền loại 200.000đ, 01 (một) tờ tiền loại 100.000đ và một vài tờ tiền mệnh giá thấp không nhớ rõ đặc điểm.

Ngày 18/7/2020, H điểu khiển xe mô tô biển kiểm soát 14Z1 – 410.01 trên đến huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trộm cắp tài sản của một người dân trên địa bàn huyện Quế Võ. Sau khi đã sử dụng hết số tiền trộm cắp, ngày 30/7/2020, Hoạch đến Công an huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tự thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản ngày 18/7/2020 tại huyện Quế Võ và ngày 17/7/2020 tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, đồng thời giao nộp chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát: 14Z1 – 410.01, 01 (một) đồng hồ, các giấy tờ mang tên Bùi Thanh H như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm chiếc điện thoại di động Iphone XS tại địa điểm mà H khai đã vứt điện thoại nhưng không tìm thấy.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 48/KL - HĐĐGTS ngày 25/8/2020, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đông Triều, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 14Z1 – 410.01 trị giá 10.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại iphone XS, màu đen trị giá 9.000.000 đồng, 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu ORRIENT màu trắng trị giá 1.000.000 đồng; 01 (một) ví giả da, màu đen trị giá 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 20.050.000 đồng (Hai mươi triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) (Bút lục số: 15-18).

Ngày 05/11/2020 Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều đã trả lại anh Bùi Thanh Hải 01(một) đồng hồ màu trắng, 01 (một) xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 14Z1 – 410.01 cùng các giấy tờ cá nhân gồm giấy phép lái, chứng minh nhân dân, đăng ký xe mô tô mang tên Bùi Thanh H.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Đình H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Tại phiên tòa, bị cáo tác động đến bố đẻ là ông Nguyễn Đình H1 bồi thường toàn bộ số tiền 10.800.000 đồng cho anh Bùi Thanh H. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mắc án thấp nhất để sớm trở về cùng gia đình và xã hội.

Người bị hại là anh Bùi Thanh H có ý kiến đã nhận đầy đủ tài sản bị mất và nhận đủ số tiền 10.800.000 đồng giá trị tài sản chưa được thu hồi theo yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 123/CT-VKS-ĐT ngày 25 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 36 tháng tù của bản án số 07/2020/HSST ngày 27/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo tự thú..

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra đều hợp pháp và đúng trình tự tố tụng.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đình H đã khai nhận hành vi như nội dung cáo trạng đã truy tố. Kết hợp với lời khai của những bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng... và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Sơ đồ, bản ảnh hiện trường; biên bản định giá tài sản... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ ngày 17/7/2020, tại nhà anh Bùi Thanh H ở khu 4, phường T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đình H có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệuHonda Wave biển kiểm soát 14Z1 – 410.01 trị giá 10.000.000đ; 01 điện thoại iphone XS trị giá 9.000.000đ; 01 đồng hồ nhãn hiệu ORRIENT trị giá 1.000.000đ và 01 ví giả da trị giá 50.000đ bên trong ví có 1.800.000đ và một số giấy tờ cá nhân. Tổng giá trị tài sản H chiếm đoạt của anh Bùi Thanh H là: 21.850.000đ (Hai mươi mốt triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đình H đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được Nhà nước và pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do tham lam, lười lao động, muốn có tiền chi tiêu cá nhân mà không phải mất công sức lao động, bị cáo lén lút vào nhà anh Bùi Thanh H trộm cắp tài sản của anh H trị giá 21.850.000 đ. Bản thân bị cáo năm 2010, 2014 và 2017 đã 3 lần bị Tòa án kết án về tội “Trộm cắp tài sản”; 01 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Hành vi của bÞ c¸o đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Hành vi đó cần phải được xử lý nghiêm, việc đưa ra xét xử công khai là cần thiết.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm….”.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:…

g) Tái phạm nguy hiểm.”

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và quan điểm của kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa truy tố bị cáo ra xét xử trước Tòa án theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là hoàn toàn có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan, cần chấp nhận. Việc đưa bị cáo ra xét xử công khai và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra là cần thiết.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, mặc dù chưa bị phát hiện, bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội của mình; quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường toàn bộ số tiền 10.800.000 đồng theo yêu cầu của bị hại; anh Bùi Thanh H đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, căn cứ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc; cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo ý nghĩa giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 16/7 đến ngày 25/7/2020, Nguyễn Đình H đã 03 lần trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2020/HSST ngày 27/10/2020, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ đã xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến nay, bản án trên đã có hiệu lực pháp luật nên cần tổng hợp hình phạt của hai bản án đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền 10.800.000đ (mười triệu tám trăm nghìn đồng) là trị giá chiếc điện thoại và số tiền mặt đã bị chiếm đoạt; các tài sản trộm cắp khác đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Người bị hại là anh Bùi Thanh H không có đề nghị nào khác. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đình H1 tự nguyện bồi thường cho anh H số tiền trên cơ sở tác động của bị cáo và không yêu cầu trách nhiệm nào khác đối với bị cáo. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Vật chứng vụ án là tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 36 (ba mươi sáu) tháng tù của bản án số 07/2020/HSST ngày 27/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/01/2021 (được trừ đi thời gian đã chấp hành bản án số 07/2020/HSST ngày 27/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh từ ngày 30/7/2020 đến ngày 19/01/2021).

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho những người này biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 – Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ