vanban.org

Bản án 05/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 01/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phước M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Nguyễn Phước M 09 ( chín ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 10 năm 2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phước M, Nguyễn Ngọc L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/HS-ST
Ngày 01 - 02 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thọ

Ông Trần Đình Khoa

Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Nữ Lệ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 01 năm 2021 và ngày 01 tháng 02 năm 2021; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2021, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 01/2021/QĐ-TA ngày 25 tháng 01 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Phước M, sinh năm: 1990, tại Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn Mxã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N, sinh năm 1948, con bà Lê Thị G, sinh năm 1953. Bị cáo là con thứ 5 trong gia đình có 7 anh chị em;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26 tháng 10 năm 2020 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Ngọc L (Tèo), sinh năm: 1991, tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Tổ 5, thôn 4, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Th, sinh năm 1961, con bà Đào Thị Thanh H, sinh năm 1963, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình có 5 anh em.

Tiền án: Ngày 21 tháng 9 năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 42/2016/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22 tháng 8 năm 2018. Bị cáo chưa thực hiện các quyết định khác của bản án.

Nhân thân: Ngày 17 tháng 4 năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của bản án ngày 19 tháng 5 năm 2008.

Bị cáo bị tạm giam ngày 26 tháng 10 năm 2020 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người bị hại:

1. Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1977, địa chỉ: Số 22 T, phường P, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Ông Bùi Công V, sinh năm 1963, địa chỉ: Ấp Bắc 3, xã H, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1989, địa chỉ: Vựa cây cảnh Kh, Ấp Bắc, xã H, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1985, địa chỉ: 1Ô 1/10 Khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (vắng mặt)

3. Bà Nguyễn Thị Ngọc K, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Số 62 A , phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 26 tháng 9 năm 2020, Nguyễn Ngọc L điều khiển xe mô tô, kiểu dáng Wave, BKS: 72K2-5122 chở Nguyễn Phước M đi chơi. Khi đi ngang qua căn nhà ông Nguyễn Đức H, tại số 222 đường Trần Hưng Đạo thuộc khu phố 3, phường Phước Nguyên, thành phố Bà Rịa, thấy trước nhà có 02 cây hoa giấy cao khoảng 1,2 mét, tán rộng khoảng 50 cm trồng trên chậu, M nói L dừng xe đứng chờ để M vào trộm cắp thì L đồng ý. M tiến đến nâng 02 chậu hoa giấy rồi lên xe L chở đến bãi đất trống cạnh tiệm cây cảnh Kh thuộc ấp Bắc, xã H, thành phố Bà Rịa cất giấu rồi tiếp tục đi tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 01 giờ ngày 27 tháng 9 năm 2020, khi đến Quốc lộ 56 thuộc ấp Bắc 3, xã H, thành phố Bà Rịa, phát hiện vườn nhà ông Bùi Công V có cây cảnh nên M nói L dừng xe để M vào nhà nhổ trộm cây. M vào vườn nhổ 02 cây mai vàng có chiều cao khoảng 02 mét, chu vi khoảng 25cm đem ra rồi lên xe L chở về phòng trọ của M tại phường Long Tâm, thành phố Bà Rịa cất giấu. Sau đó, M đem 02 cây bông hoa giấy đã lấy được trước đến tiệm cây cảnh Khánh Tâm do ông Nguyễn Chí T - làm chủ bán với giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). Số tiền bán cây, M chia cho L 70.000đ, số còn lại cả hai mua đồ ăn hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bà Rịa kết luận:

+ 01 cây cảnh loại cây mai vàng kích thước cao 2,1 mét, chu vi 25cm có giá 2.000.000đ

+ 01 cây cảnh loại cây mai vàng kích thước cao 1,9 mét, chu vi 26cm có giá 1.833.000đ

Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt: 3.833.000đ (ba triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).”

Tại bản kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bà Rịa kết luận:

+ 01 cây cảnh loại cây hoa giấy kích thước cao 1,1 mét, chu vi 35cm có giá 1.000.000đ

+ 01 cây cảnh loại cây hoa giấy kích thước cao 80cm, chu vi 35cm có giá 1.233.000đ

Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.233.000đ (hai triệu hai trăm ba mươi ba ngàn đồng.”

Việc thu giữ và xử lý vật chứng:

+ 01 cây cảnh loại cây hoa giấy, kích thước: cao 1,1 mét, chu vi 35cm; 01 cây cảnh loại hoa giấy, kích thước: cao 80cm, chu vi 35cm do ông Nguyễn Chí T giao nộp. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Đức H.

+ 01 cây cảnh, loại hoa mai, kích thước: cao 2,1m, chu vi gốc 25cm; 01 cây cảnh loại hoa mai, kích thước: cao 1,9m, chu vi gốc 25cm thu giữ của Nguyễn Phước M. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Bùi Công V.

+ 01 xe mô tô, kiểu dáng Wave, BKS: 72K2-5122, số máy: 52FMH - 012726, số khung: DCH094TT-012726. Qua xác minh, xe do bà Nguyễn Thị B, sinh năm1985, địa chỉ: khu phố Hải Phúc, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là chủ sở hữu. Bà Bông đã bán lại cho người khác nhưng không nhớ tên tuổi. Nguyễn Ngọc L khai mượn của bà Nguyễn Thị Ngọc K, sinh năm: 1987, địa chỉ: 62A, phường L, thành phố Bà Rịa. Bà Khánh khai mua của người đàn ông không rõ lai lịch tại huyện Đ, khi mua không làm thủ tục sang tên. Bà Khánh không liên quan đến hành vi trộm cắp của các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Đức H và ông Bùi Công V đã nhận lại tài sản ngày 20 tháng 10 năm 2020, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ông Nguyễn Chí T không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền mà ông đã mua 02 cây hoa giấy. Tuy nhiên gia đình Nguyễn Ngọc L đã trả lại số tiền ông Tâm đã mua 02 cây hoa giấy của các bị cáo.

Bản Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 05 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Phước M và bị cáo Nguyễn Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Phước M và Nguyễn Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đề nghị mức án đối với Nguyễn Ngọc L từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS, đề nghị mức án đối với Nguyễn Phước M từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc K 01 xe mô tô, kiểu dáng Wave, BKS: 72K2-5122, số máy: 52FMH-012726, số khung: DCH094TT-012726. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.

- Các bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Phước M và Nguyễn Ngọc L: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với đơn trình báo của bị hại; Vật chứng thu giữ, các kết luận định giá tài sản trong tố tụng, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 26 tháng 9 năm 2020, tại số nhà 222 đường Trần Hưng Đạo, phường Phước Nguyên, thành phố Bà Rịa, Nguyễn Phước M cùng Nguyễn Ngọc L trộm cắp 02 cây hoa giấy trị giá 2.233.000 đồng của ông Nguyễn Đức H. 01 giờ ngày 27 tháng 9 năm 2020, tại ấp Bắc 3, xã H, thành phố Bà Rịa cả hai tiếp tục trộm cắp 02 cây mai trị giá 3.833.000 đồng của ông Bùi Công V. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 6.066.000 đồng.

Hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật của M và L đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Nguyễn Phước M, Nguyễn Ngọc L: Giữa M và L không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn, không có yếu tố tổ chức. Bị cáo M và bị cáo L cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp 02 vụ, mỗi vụ giá trị tài sản trên 2.000.000 đồng, do đó các bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L chưa được xóa án tích về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 42/2016/HSST ngày 21/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước nên L bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về nhân thân bị cáo L từng bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản năm 2008, nên cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của L. Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử các bị cáo L, M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo L tác động gia đình trả lại cho ông Nguyễn Chí T số tiền 500.000 đồng mà các bị cáo thu lợi từ việc bán 02 cây hoa giấy cho ông T, do đó không buộc các bị cáo phải nộp tiền thu lợi bất chính, đây cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo L.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo M, L không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Đức H, ông Bùi Công V về việc không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: 01 xe mô tô, kiểu dáng Wave, BKS: 72K2-5122, số máy: 52FMH-012726, số khung: DCH094TT-012726 không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc K.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét hành vi của ông Nguyễn Chí T: Ông T là người mua tài sản, nhưng không biết tài sản là do phạm tội mà có nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phước M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Phước M 09 ( chín ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 10 năm 2020.

[2] Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc L 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 10 năm 2020.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc K 01 xe mô tô, kiểu dáng Wave, BKS: 72K2-5122, số máy: 52FMH-012726, số khung: DCH094TT-012726.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 01 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Phước M, Nguyễn Ngọc L nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ