- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn E - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2021/HS-ST Ngày 03-02-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị khoa
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Hoàng Văn Vương
+ Bà Hồ Lệ Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vỉ - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tuấn E; tên gọi khác: Bé T, sinh năm 1989; nơi sinh: thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Khóm 2, phường H, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị H; Vợ Võ Thị T và có 01 người con; Tiền án: Có 01 tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HS-ST ngày 22/02/2019 của Tòa án thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/7/2019, chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự và án phí; tiền sự: Không; Bị cáo đang bị tạm giam tại vụ án khác; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Anh Lê Thanh X, sinh năm 1978, có mặt
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
2. Anh Châu Văn H, sinh năm 1993, có mặt
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
3. Anh Trần Trường Giang, sinh năm 1985, có mặt
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Tạm trú: Ấp 2, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lý Văn H, sinh năm 1992, có mặt
Địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
2. Anh Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1985, có đơn xin vắng mặt
Địa chỉ: Khóm S, phường A, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 31/01/2020, Nguyễn Tuấn E rủ Lý Văn Đ đi huyện Thới Bình chơi, nếu thấy xe của người dân để sơ hở thì sẽ lấy trộm bán chia nhau tiêu xài, Đ đồng ý. Đ điều khiển xe Exciter của Đ (không rõ biển số), chở Tuấn E từ phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu đi huyện Thới Bình. Đến khoảng 01 giờ ngày 01/02/2020 Tuấn E và Đ đến địa bàn ấp Trời Mọc, xã Tân Phú, huyện Thới Bình, lúc này Tuấn E phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Wave Zx biển số 69F8-4500 của anh Lê Thanh X đang đậu ở trong sân nhà ông Nguyễn Duy K cùng một số xe khác mà không có người trông coi. Tuấn E kêu Đ dừng xe lại cách đó một đoạn để canh đường, còn Tuấn E trực tiếp lén lút đi vào vị trí đậu nhiều xe và lấy trộm xe mô tô biển số 69F8-4500 của anh X dẫn ra ngoài lộ được một đoạn thì dùng tay tháo dây điện ổ khóa rồi khởi động xe chạy về phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai cùng với Đ. Sau đó Tuấn E bán xe này cho Lý Văn H với giá 6.000.000 đồng, lấy tiêu xài cá nhân hết. H sau đó bán lại cho Nguyễn Ngọc M, Minh bán tiếp lại cho người lạ (không xác định được họ, tên và địa chỉ), nên không thu hồi được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2020 kết luận giá trị thực tế của: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE ZX, màu đỏ - đen, biển số 69F8-4500 mua vào tháng 10 năm 2019 còn lại là 16.000.000 đồng.
Lần thứ 2: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 02/4/2020, Tuấn E điều khiển xe hiệu Exciter của Đ (không rõ biển số), chở Đ đi đến huyện Thới Bình để tìm xe mô tô của người dân để sơ hở sẽ lấy trộm. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, Tuấn E và Đ đến ấp Tràm Thẻ Đông, xã Tân Phú, huyện Thới Bình thì phát hiện xe mô tô hiệu Exciter biển số 69D1-301.97 của anh Châu Văn H đang để trong sân trước nhà của anh Bùi Văn Niên. Tuấn E dừng xe lại cho Đ đứng ngoài canh đường, còn Tuấn E đi vào thì phát hiện chiếc xe của anh H có gắn sẵn chìa khóa, anh H thì đang nằm võng ở mái hiên nhà của anh Niên bấm điện thoại, mặt quay vào phía trong nhà. Tuấn E lén lút lấy trộm xe của anh H dẫn ra ngoài một đoạn thì khởi động xe điều khiển cùng với Đ chạy về phường 8, thành phố Bạc Liêu bán cho người không quen biết tên Bửu (không xác định được họ, tên và địa chỉ cụ thể) với giá 9.000.000 đồng, Tuấn E chia cho Đ 4.500.000 đồng, còn lại tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2020 kết luận giá trị thực tế của: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu xanh – đen – bạc, biển số 69D1-301.97 mua vào ngày 21/3/2017 còn lại là 30.000.000 đồng.
Lần thứ 3: Khoảng 23 giờ 08/4/2020 Tuấn E tiếp tục rủ Đ đi huyện Thới Bình để tìm xe lấy trộm, Tuấn E điều khiển xe hiệu Exciter của Đ chở Đ từ phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai để đi đến huyện Thới Bình. Đến khoảng 02 giờ ngày 09/4/2020 Tuấn E và Đ đến ấp 2, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình thì phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Wave 110 biển số 69D1-467.62 của anh Trần Trường Giang để trong sân nhà có cổng rào đã khóa, bên trong nhà đã tắt đèn không ai trông coi. Tuấn E điều khiển xe dừng lại ngay cổng rào cho Đ đứng ở ngoài canh đường, còn Tuấn E quan sát xung quanh không thấy ai nên dùng kềm cộng lực có sẵn trong cóp xe cắt khóa rào rồi lén lút đi vào chỗ để xe thì phát hiện xe có gắn sẵn chìa khoá, Tuấn E lấy trộm xe dẫn ra ngoài lộ một đoạn thì khởi động, điều khiển xe cùng Đ chạy về phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai. Tuấn E bán cho một người không quen biết (không xác định được họ tên và địa chỉ) ở thành phố Bạc Liêu được 9.000.000 đồng, rồi tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 06/8/2020 kết luận giá trị thực tế của: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave 110, màu xanh - đen, biển số 69D1-467.62 mua vào tháng 12 năm 2019 còn lại là 35.500.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản mà Tuấn E chiếm đoạt được trong ba vụ trộm cắp tài sản trên là 81.500.000 đồng.
Bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 24/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn E về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị hại gồm: Anh Lê Thanh X yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 16 triệu đồng; Anh Châu Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30 triệu đồng; Anh Trần Trường Giang yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 35.500.000 đồng; Về trách nhiệm hình sự: Các bị hại yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
Đối với anh Lý Văn H xác định có mua xe từ bị cáo nhưng không biết là tài sản trộm cắp mà có, tại vụ án này anh H không có yêu cầu gì.
Bị cáo thừa nhận các hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, thống nhất bồi thường theo yêu cầu của các bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ y cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn E phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Lê Thanh X 16 triệu đồng, bồi thường cho anh Châu Văn H 30 triệu đồng, bồi thường cho anh Trần Trường Giang 35.500.000 đồng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: Từ ngày 01/02/2020 đến ngày 09/4/2020 bị cáo đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thới Bình, gồm: trộm của anh Lê Thanh X 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE ZX, màu đỏ - đen, biển số 69F8-4500, giá trị còn lại là 16.000.000 đồng; trộm của anh Châu Văn H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu xanh – đen – bạc, biển số 69D1-301.97, giá trị còn lại là 30.000.000 đồng; trộm của anh Trần Trường Giang 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave 110, màu xanh - đen, biển số 69D1-467.62, giá trị còn lại là 35.500.000 đồng.Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 81.500.000 đồng.
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu đã thu thập có tại hồ sơ. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo trộm là 81.500.000 đồng thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Từ các căn cứ nêu trên có cơ sở kết luận Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 24/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo đang trong độ tuổi lao động nhưng vì bản tính tham lam, lười lao động, xem thường pháp luật muốn trộm cắp tài sản của người khác để sử dụng tiêu xài cá nhân và phục vụ cho lợi ích của bản nhân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội nói chung và gây hoang mang lo sợ trong quá trình gìn giữ tài sản ở địa phương nói riêng. Lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý. Ngoài ra, bị cáo còn đang bị điều tra về hành vi Trộm cắp tài sản tại vụ án khác. Do đó cần phải xử phạt bị cáo với mức phạt thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa và giáo dục đối với bị cáo.
Khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau: Bị cáo tự thú; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thực hiện ba vụ trộm cắp tài sản và thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Lê Thanh X yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 16 triệu đồng; Anh Châu Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30 triệu đồng; Anh Trần Trường Giang yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 35.500.000 đồng; Bị cáo cũng thống nhất bồi thường theo yêu cầu của các bị hại nên cần buộc bị cáo bồi thường cho anh Lê Thanh X 16 triệu đồng, bồi thường cho anh Châu Văn H 30 triệu đồng, bồi thường cho anh Trần Trường Giang 35.500.000 đồng.
Vật chứng tại vụ án: Không có nên không xem xét.
[
8] Trong vụ án này có Lý Văn Đ cùng với Tuấn E thực hiện hành vi trộm cắp nhưng do Đ đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hải đang truy nã chưa bắt được, chưa làm việc được với Đ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình tách ra xử lý sau là phù hợp. Đối với Lý Văn H, Nguyễn Ngọc M có mua xe từ Tuấn E, nhưng không biết đó là tài sản trộm mà có nên không xử lý là phù hợp. Còn người thanh niên tên Bửu và một người lạ mặt mua xe từ Tuấn E do không xác định được họ, tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Bị cáo phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn E phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn E 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Lê Thanh X 16 (mười sáu) triệu đồng, bồi thường cho anh Châu Văn H 30 (ba mươi) triệu đồng, bồi thường cho anh Trần Trường Giang 35.500.000 (ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn) đồng.
Trường hợp các bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo không thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các bị hại thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và thi hành án:
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tuấn E phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự trong vụ án hình sự: Bị cáo Nguyễn Tuấn E phải nộp 4.075.000 đồng (Bốn triệu không trăm bảy muoi lăm nghìn đồng).
Bản án này là sơ thẩm, báo cho bị cáo, các bị hại, anh Lý Văn H biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh M vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Thới Bình; - Công an huyện Thới Bình; - Chi cục THA huyện Thới Bình; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Khoa |