vanban.org

Bản án 05/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 26/02/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đỗ Thị Q.

Về quan hệ hôn nhân: chị Đỗ Thị Q được ly hôn với anh Wong Gi L. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0002341 ngày 28/01/2021 t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Q - Wong Gi L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đỗ Thị Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26-02-2021
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đoan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Xanh

Ông Đặng Đình Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2021, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2021/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 01 năm 2021 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 02/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Đỗ Thị Q; Sinh năm 1984; Địa chỉ: phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

- Bị đơn: anh Wong Gi L; Sinh năm 1961; Địa chỉ: Israel; Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Q trình bày:

Trước khi kết hôn, chị Q và anh Wong Gi L đều đã có vợ, có chồng nhưng đều đã ly hôn. Sau gần 01 năm tìm hiểu, chị Q và anh Wong Gi L làm thủ tục đăng kí kết hôn vào ngày 05/11/2019 tại Ủy ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh và bắt đầu phát sinh nhiều vấn đề mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Đến cuối năm 2019, anh Wong Gi L về Isarel sinh sống nên hai vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Đến nay chị Q nhận thấy tình cảm dành cho chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam giải quyết cho chị được ly hôn với anh Wong Gi L.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản Thỏa thuận giải quyết ly hôn của bị đơn anh Wong Gi L (công chứng ngày 29/7/2020 tại phòng Tư pháp thị xã Đ) và Đơn xin ly dị đề nghị xử vắng mặt công chứng ngày 21/01/2021) thể hiện:

Anh và chị Đỗ Thị Q đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh ngày 05/11/2019 và đã ly thân từ ngày 17/11/2019 do một số “khác biệt không thể hòa giải”. Vì vậy, cả anh và chị Q đều mong muốn ly hôn, chị Q có trách nhiệm nộp đơn xin ly hôn anh tại Tòa án có thẩm quyền ở Việt Nam, anh đồng ý ly hôn và không yêu cầu Tòa án hòa giải. Trong thời gian kết hôn, hai vợ chồng không có không có con chung. Do hiện tại anh Wong Gi L không thể quay trở lại Việt Nam để giải quyết việc ly hôn được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà Hội đồng xét xử thấy:

Về tố tụng: chị Đỗ Thị Q, anh Wong Gi L đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Q và anh Wong Gi L là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn do Uỷ ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh thì chị Đỗ Thị Q, anh Wong Gi L đăng kí kết hôn ngày 05/11/2019 tại Uỷ ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh và bắt đầu phát sinh nhiều vấn đề, mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Đến cuối năm 2019, anh Wong Gi L về Isarel sinh sống nên hai vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Vì vậy, cả hai vợ chồng đã thống nhất lập văn bản Thỏa thuận giải quyết ly hôn tại phòng Tư pháp thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh để thể hiện ý chí mong muốn ly hôn và việc nộp đơn xin ly hôn sẽ do người vợ là chị Q thực hiện.

Như vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Q và giải quyết cho chị Q được ly hôn với anh Wong Gi L là phù với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung, tài sản chung: chị Q và anh Wong Gi L đều trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đỗ Thị Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Đỗ Thị Q được ly hôn với anh Wong Gi L.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0002341 ngày 28/01/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Chị Đỗ Thị Q và anh Wong Gi L có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ