- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ giữa chị Chu Thị Quân - anh Vi Văn Thêm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị Q: Cho Chị Chu Thị Q được ly hôn với anh Vi Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2021/HNGĐ-ST Ngày: 20-01-2021 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Giáp Văn Phẩm.
2. Ông Vũ Ngọc Côn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ca - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 387/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2020/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chu Thị Q, sinh năm 1987. Có mặt
Địa chỉ: Thôn X, xã S, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Vi Văn T, sinh năm 1986. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn X, xã S, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2020 và tại bản tự khai, nguyên đơn chị Chu Thị Q trình bày:
Chị và anh Vi Văn T kết hôn với nhau vào năm 2006 trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh T làm dâu ngay. Vợ chồng sống chung tại gia đình anh T sau đó được cho ra ở giêng tại tại thôn X, xã S, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. NgU nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống thường xU xảy ra cãi vã làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt, không có hạnh phúc. Anh T thường xU sử dụng rượu bia, không tu chí làm ăn, không chăm lo cho gia đình, chị có khU giải nhiều lần nhưng anh T không hề thay đổi. Từ năm 2018 chị về nhà mẹ đẻ sinh sống chị và anh T sống ly thân từ đó đến nay, đến nay không còn quan hệ tình cảm gì, không ai quan tâm đến ai. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Vi Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là Vi Thị Tố U, sinh ngày 19/10/2006 và Vi Thị Tố O, sinh ngày 26/12/2014. Nay ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cho chị được nuôi cháu O, anh T nuôi dưỡng cháu U. Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Con chung là cháu Vi Thị Tố U trình bày khi bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với bố Vi Văn T.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Vi Văn T vắng không có lý do. Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T không cung cấp văn bản ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T, không tham dự phiên họp, phiên hòa giải nên Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của anh T được.
Tại biên bản xác minh tại địa phương ông Hoàng Văn N là cán bộ tư pháp xã Sa Lý và ông Lâm Văn C là trưởng thôn X, xã S, huyện LN cho biết: Chị Chu Thị Q và anh Vi Văn T là vợ chồng, tuy nhiên anh T chị Q đã sống ly thân với nhau mộ thời gian dài. Hiện nay anh T vẫn cư trú và sinh sống tại thôn X, xã S, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Chu Thị Q vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vi Văn T và đề nghị được nuôi dưỡng con chung là cháu Vi Thị Tố O, anh T nưôi dưỡng cháu Vi Thị Tố U. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung, chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng ngU tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị Q: Cho chị Chu Thị Q được ly hôn với anh Vi Văn T.
- Về con chung: Giao cho chị Chu Thị Q là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Vi Thị Tố O, sinh ngày 26/12/2014, giao cho anh Vi Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Vi Thị Tố U, sinh ngày 19/10/2006. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Chu Thị Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về thẩm quyền giải quyết: Chị Chu Thị Q khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, con chung với anh Vi Văn T; anh T có hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại thôn X, xã S, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Bị đơn anh Vi Văn T được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy ngU đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay anh T vẫn có hộ khẩu và đang cư trú, sinh sống tại thôn X, xã S, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Hiện nay anh T vẫn ở địa phương. Tuy nhiên anh T không cung cấp địa chỉ, nơi ở, nơi làm việc hiện nay và không cung cấp ý kiến của minh về việc giải quyết vụ án. Tại Công văn số 22486/QLXNC-P5 ngày 01/12/2020 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an cung cấp thông tin anh Vi Văn T không có thông tin xuất nhập cảnh tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh.
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là trường hợp cố tình giấu giếm địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt anh Vi Văn T.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị Q và anh Vi Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng kết hôn với nhau vào ngày 13 tháng 02 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, đến nay không ai còn quan tâm tới ai. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 đến nay. Nay chị Q làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh T. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Q anh T có mâu thuẫn, đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Q, cho chị Q được ly hôn với anh T là có căn cứ.
. Về con chung: Chị Q anh T có 02 con chung là cháu Vi Thị Tố U, sinh ngày 19/10/2006 và Vi Thị Tố O, sinh ngày 26/12/2014. Khi ly hôn chị Q có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Vi Thị Tố O, cháu Vi Thị Tố U có nguyện vọng ở với anh T chị đồng ý. Hội đồng xét xử thấy, hiện nay cả hai con chung của chị Q anh T đều phát triển khỏe mạnh chị Q có nguyện vọng nuôi dưỡng một con chung là cháu O là chính đáng, hiện nay chị Q đang là công nhân hàng tháng có thu nhập đủ điều kiện để nuôi dưỡng một con chung. Anh T hiện nay vẫn ở và sinh sống tại địa phương con chung là cháu Vi Thị Tố U hiện đang ở cùng anh T và có nguyện vọng ở với anh T. Do vậy cần giao cho chị Chu Thị Q nuôi dưỡng cháu Vi Thị Tố O, giao cho anh Vi Văn T nuôi dưỡng cháu Vi Thị Tố O là phù hợp với Điều 81 luật hôn nhân gia đình và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Chu Thị Q không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Hiện nay chị Chu Thị Q là người dân tộc Tày đang cư trú tại thôn X, xã S, huyện LN, tỉnh Bắc Giang thuộc trường hợp là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên chị Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án..
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị Q: Cho Chị Chu Thị Q được ly hôn với anh Vi Văn T.
2. Về con chung: Giao cho chị Chu Thị Q nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Vi Thị Tố O, sinh ngày 26/12/2014. Giao cho anh Vi Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Vi Thị Tố U, sinh ngày 19/10/2006. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh T, chị Q được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản anh T, chị Q thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Chu Thị Q.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lục Ngạn; - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn. - UBND xã S, huyện LN, tỉnh Bắc Giang; - Các đương sự; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Đức Nhường |