vanban.org

Bản án 05/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận việc thuận tình ly hôn của chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L.

Về nuôi con chung: Giao con chung Ma Ngọc H, sinh ngày 04/12/2016 cho chị Phương Thị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chị Phương Thị Th không yêu cầu anh Ma Văn L cấp dưỡng nuôi con chung. Vì lợi ích của con khi cần thiết các … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phương Thị Th và Anh Ma Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận việc thuận tình ly hôn của chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 09/9/2021
V/v: tranh chấp về ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hiến Công Hanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Hoàng Huy và bà Lý Thị Minh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Nha - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân & gia đình thụ lý số 49/2021/TLST-HNGĐ ngày 08/7/2021 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 19/8/2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phương Thị Th – sinh năm 1996

Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

* Bị đơn: Anh Ma Văn L – sinh năm 1991.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn (chị Phương Thị Th), bị đơn (anh Ma Văn L) trình bày:

Chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Sau khi kết hôn hai anh chị về sinh sống và làm ăn tại thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Đến tháng 10/2020 sau khi anh Ma Văn L chấp hành án phạt tù về tội “Đánh bạc” xong trở về địa phương sinh sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Đến tháng 12/2020 thì hai vợ chồng sống ly thân đến nay. Ngày 23/6/2021, chị Phương Thị Th khởi kiện xin ly hôn anh Ma Văn L, anh L xác định vợ chồng không còn tình cảm nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L khai có một con chung tên là Ma Ngọc H (con trai), sinh này 04/12/2016. Do chị Th hiện nay đang làm việc tại cửa hàng Điện máy xanh nên từ khi vợ chồng sống ly thân con chung vẫn do anh L và bố mẹ anh L chăm sóc, nuôi dưỡng đến nay. Chị Th và anh L xác định cả hai vợ chồng đều có việc làm và có mức thu nhập hàng tháng ổn định nên đều có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu xem xét giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con (chị Th có cung cấp được bản sao tiền lương hàng tháng tại nơi làm việc).

Về tài sản chung: Chị Phương Thị Th và anh Ma Văn Lo có lời khai thống nhất xác định, trong quá trình chung sống vợ chồng không tạo lập được tài sản chung.

Về các khoản nợ chung: Chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L có lời khai thống nhất xác định, trong quá trình chung sống vợ chồng không vay nợ tiền, tài sản của tổ chức, cá nhân nào.

Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải. Tại buổi hòa giải ngày 30/7/2021, Chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L đã thống nhất thuận tình ly hôn; về tài sản chung, nợ chung và đồ dùng sinh hoạt chung đều không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nuôi con chung và các vấn đề liên quan đến nuôi con chung sau ly hôn thì chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L không tự thỏa thuận, thống nhất được. Ngày 20/8/2021, Tòa án tiếp tục tiến hành hòa giải vụ án (lần 2) nhưng hòa giải không thành hai bên do có tranh chấp về việc nuôi con chung. Do các bên không tự thỏa thuận, thống nhất được tất cả các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa: Chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L vẫn giữ nguyên yêu cầu và yêu cầu Tòa án ghi nhận việc thuận tình ly hôn và giải quyết tranh chấp việc nuôi con chung.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án tiến hành xét xử đều đúng quy định của pháp luật. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.

- Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L.

+ Về con chung: Chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L có 01 con chung tên là Ma Ngọc H, sinh ngày 04/12/2016 hiện nay đang ở với anh L. Hai bên đều có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu bên còn lại phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, xét điều kiện thực tế hiện nay chị Th có việc làm và thu nhập ổn định hơn anh L vì vậy để tạo điều kiện phát triển tốt nhất cho cháu H, nên giao cháu H cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Th không yêu cầu nên không xem xét.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

+ Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Ngày 08/7/2021 Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án. Trong quá trình tố tụng Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ và tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật. Do các đương sự không tự thỏa thuận được hết các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng trình tự, thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L kết hôn năm 2016, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Ngày 23/6/2021, chị Th khởi kiện xin ly hôn anh L, về tình cảm anh L cũng đồng ý ly hôn (vì trước đó, ngày 07/6/2021 anh Ma Văn L khởi kiện xin ly hôn chị Th nhưng sau đó anh L lại xin rút đơn khởi kiện). Việc thuận tình ly hôn giữa chị Th và anh L là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L.

- Về con chung: Chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L có 01 con chung tên là Ma Ngọc H sinh ngày 04/12/2016. Quá trình giải quyết vụ án và lời khai tại phiên tòa, chị Th và anh L xác định hiện nay cả hai vợ chồng đều có việc làm và có mức thu nhập hàng tháng ổn định nên đều có nguyện vọng nuôi con chung sau ly hôn, xét thấy nguyện vọng của hai bên là chính đáng. Tuy nhiên, tổng hợp quá trình xác minh tại địa phương, lời trình bày của các đương sự trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa; phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án, xét thấy: Hiện nay chị Th có việc việc làm và thu nhập lương hàng tháng ổn định; còn anh L khai, sau khi chấp hành án phạt tù xong trở về địa phương sinh sống bản thân anh lái xe tải của gia đình kinh doanh vận tải hàng hóa hàng hóa, và gia đình có buôn bán hàng tạp hóa tại nhà có mức thu nhập hàng tháng của gia đình ổn định với số tiền khoảng 10.000.000đ (Mười triệu đồng)/tháng đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, nhưng anh L không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho nguồn thu nhập này (Biên lai thu thuế kinh doanh hàng tháng của gia đình). Để đảm bảo thuận lợi cho mọi mặt phát triển của con chung, giao con chung cho chị Phương Thị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Th không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, các khoản nợ chung, đồ dùng sinh hoạt chung: trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị Th và anh L đều khai thống nhất là không có.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận việc thuận tình ly hôn của chị Phương Thị Th và anh Ma Văn L.

- Về nuôi con chung: Giao con chung Ma Ngọc H, sinh ngày 04/12/2016 cho chị Phương Thị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chị Phương Thị Th không yêu cầu anh Ma Văn L cấp dưỡng nuôi con chung. Vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Chị Phương Thị Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000619 ngày 08 tháng 7 năm 2021 của Chi cục thi hành án huyện C.

"Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ".

Án xử công khai sơ thẩm có mặt hai bên đương sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ