- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim L - Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 217, 218, 219; Điều 146 và Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình nă…
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2021/HNGĐ-ST Ngày: 04/02/2021 V/v “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
-Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Hưng Quang
2. Bà Nguyễn Thị Lai
-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Văn Hồng Lễ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện T
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Có- Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 384/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2020 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01A/2021/QĐXX-ST- ngày 06 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2021/QĐ-HPT ngày 21 tháng 01 năm 2021; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L – sinh năm 1990; Địa chỉ: Xóm 1, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H – sinh năm 1981; Địa chỉ: Xóm 1, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
(Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 08/9/2020 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn H xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2006 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu thương yêu nhau, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới hỏi cho vợ chồng bà, đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã P (theo giấy chứng nhận kết hôn số 125, quyển số 01, ngày 02/12/2009).
Sau khi xác lập quan hệ, vợ chồng bà sống tại nhà cha mẹ bà, cuộc sống chung của vợ chồng bà chỉ hạnh phúc trong thời gian ngắn, vì trong quá trình chung sống ông H không lo làm ăn, thường xuyên đi uống rượu, mỗi khi uống rượu về không tôn trọng bà mà còn có hành hung đánh đập bà nhiều lần, hơn nữa có lời lẽ chưởi mắng và xúc phạm đến cha mẹ bà, ông H còn có tính ghen tuông. Bà cố gắng chịu đựng chăm sóc, nuôi con để xem ông H có thay đổi không, nhưng tính tình ông H vẫn không hề thay đổi, ngày càng cư xử tệ bạc hơn trước. Đến tháng 3 năm 2019 vợ chồng bà ly thân cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Bà nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân đã thực sự đổ vỡ và không thể hàn gắn lại được nên bà làm đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
Về con chung: bà và ông Nguyễn Văn H có 03 con chung: Nguyễn Quốc T, sinh ngày 10/6/2006, Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 14/9/2009 và Nguyễn Hoàng Ngọc T2, sinh ngày 10/01/2016, hiện nay các con đang ở với bà, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục đến khi trưởng thành, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Trong đơn khởi kiện ngày 08/9/2020 bà có yêu cầu Tòa án giải quyết chia đôi tài sản chung, nhưng sau đó bà xin rút yêu cầu để tự thỏa thuận.
Về nợ chung: bà không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt nên không ghi được lời khai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn sự đã thực hiện đúng Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn không thực hiện đúng Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng không đến Tòa căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn.
- Quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19; Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim L. Bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Giao cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục con chung: Nguyễn Quốc T, sinh ngày 10/6/2006, Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 14/9/2009 và Nguyễn Hoàng Ngọc T2, sinh ngày 10/01/2016 đến khi trưởng thành, bà L không không yêu ông H cấp dưỡng nuôi các con.
- Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt cũng như không đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Tòa án đã xác định địa chỉ của ông đúng theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp và tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự cho ông Nguyễn Văn H, do ông Nguyễn Văn H vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Văn H được xác lập là hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống do ông H không quan tâm gì đến đời sống kinh tế gia đình, không có trách nhiệm với vợ con, hơn nữa còn có tính ghen tuông, bà đã cố gắng chịu đựng và khuyên ông H nhưng ông H không thay đổi bà không thể chịu đựng được nữa. Đến tháng 3 năm 2019 bà và ông H chính thức chấm dứt quan hệ vợ chồng cho đến nay. Bà L xác nhận không còn tình cảm với ông H nữa, nên bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
Xét thấy, bà L và ông H đã ly thân nhau một thời gian dài, từ khi ly thân nhau bà L và ông H không tự tìm phương án hòa giải để vợ chồng cùng đoàn tụ, ông H đã vi phạm nghĩa vụ đối với vợ con. Chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa bà L và ông H đã thực sự đỗ vỡ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà L.
Về con chung: Tại tòa bà L yêu cầu nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét thấy, từ khi bà và ông H ly thân nhau thì bà L là người trực tiếp nuôi con chung, ông H bỏ mặc con không có trách nhiệm với con cái. Chứng tỏ, ông đã vi phạm nghĩa vụ đối với các con, tại tòa bà L cam đoan sẽ lo cho các con có một cuộc sống đầy đủ về mọi mặt, đồng thời nguyện vọng của các con xin được ở với mẹ, vì vậy giao cho bà L nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp hơn. Giao các con chung cho bà L nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con trưởng thành;
Về cấp dưỡng: Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét;
Về tài sản chung: Do bà L đã rút yêu cầu phân chia tài sản nên đình chỉ giải quyết việc phân chia tài sản chung;
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét;
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án, bà L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; Do bà L rút yêu cầu phân chia tài sản nên hoàn trả tạm ứng án phí về yêu cầu phân chia tài sản cho bà L theo quy định pháp luật.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 217, 218, 219; Điều 146 và Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim L. Bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
[3] Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Kim L được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục các con chung: Nguyễn Quốc T, sinh ngày 10/6/2006, Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 14/9/2009 và Nguyễn Hoàng Ngọc T2, sinh ngày 10/01/2016 đến khi các con trưởng thành.
Bà L không được cản trở ông H trong việc trông nom, chăm sóc và giáo dục các con chung.
[4] Về án phí: bà Nguyễn Thị Kim L phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; Được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà đã nộp tại biên lai thu số 0009060 ngày 14/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, bà L đã nộp đủ án phí.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 1.125.000đ (một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí (về tranh chấp chia tài sản) tại biên lai số 0009061 ngày 20/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong.
[5] Quyền kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim L là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/02/2021), đối với ông Nguyễn Văn H vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã (thị trấn) - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lý Văn Lấy |