vanban.org

Bản án 05/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình T.

Xác định anh Nguyễn Đình T sinh ngày 16/9/1961, địa chỉ: Số nhà 298 đường N, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội là cha ruột của cháu Nguyễn Đình M sinh ngày 16/5/2017 (theo giấy chứng sinh số 107, quyển số 05/2017, nơi sinh bệnh viện Quân Y 354). Án phí: Anh Nguyễn Đình T không phải nộp án phí. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "T - X"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2021/HNGĐ-ST.
Ngày 14 - 01 - 2021.
V/v: “ Tranh chấp xác định cha cho con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Phong

Bà Phạm Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2020/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2020 về việc tranh chấp xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/01/2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1961. Trú tại: Số nhà 298 đường N, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Chị Phạm Thị X, sinh năm 1989. Trú tại: Xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Đình T trình bày:

Trong thời gian chị Phạm Thị X sống ly thân với chồng, anh có quen biết và quan hệ tình cảm với chị X. Ngày 16 tháng 5 năm 2017 chị X sinh cháu Nguyễn Đình M. Anh đã nhiều lần đề nghị chị cho anh được nhận là cha cháu M nhưng chị X không đồng ý. Ngày 25 tháng 12 năm 2020 anh đã đi làm xét nghiệm ADN để xác định quan hệ giữa anh và cháu M. Theo phiếu kết quả phân tích ADN kết luận anh là cha của cháu M nhưng chị X không chấp nhận nên anh làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh xác định anh là cha cháu Nguyễn Đình M sinh ngày 16 tháng 5 năm 2017 để anh thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình với cháu M. Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại bản tự khai ngày 04 tháng 01 năm 2021 chị Phạm Thị X trình bày:

Chị đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh về việc anh T có đơn xin xác nhận anh là cha của cháu Nguyễn Đình M.

Về yêu cầu của anh Nguyễn Đình T, chị có quan điểm như sau: Chị kết hôn với anh Vũ Văn H năm 2009. Quá trình chung sống chị và anh H có mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2013 - 2020. Trong thời gian sống ly thân, chị có quen biết và quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Đình T. Ngày 16 tháng 5 năm 2017 chị sinh cháu Nguyễn Đình M. Anh T nhiều lần đề nghị chị cho anh được nhận cháu M là con nhưng chị không đồng ý. Sau đó anh T đã làm xét nghiệm ADN để xác định quan hệ giữa anh và cháu M. Theo phiếu kết quả phân tích ADN kết luận anh T là cha của cháu M. Nay anh T có đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án xác nhận anh T là cha cháu Nguyễn Đình M sinh ngày 16 tháng 5 năm 2017, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị xin được vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử nhận định, sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi các đương sự có đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.

Về nội dung:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án HĐXX xét thấy:

Anh Nguyễn Đình T và chị Phạm Thị X đều có lời khai xác định: Trong thời gian từ năm 2013 - 2020, chị X sống ly thân với chồng là anh Vũ Văn H, anh T và chị X có quan hệ tình cảm với nhau. Ngày 16 tháng 5 năm 2017 chị X sinh cháu Nguyễn Đình M.

Theo nội dung đơn “Từ chối nhận con” ngày 18 tháng 12 năm 2020 của anh Vũ Văn H trình bày: Anh và chị X kết hôn với nhau năm 2009, trong thời gian từ 2013 - 2020 anh và chị X sống ly thân, không có quan hệ tình cảm với nhau nên cháu Nguyễn Đình M sinh ngày 16 tháng 5 năm 2017 không phải là con của anh và chị X.

Theo phiếu kết quả phân tích ADN của Hội đồng khoa học, Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền – Gentis, địa chỉ tầng 2 tòa nhà HCMCC, 249A Thụy Khê quận Tây Hồ thành phố Hà Nội kết luận: Anh Nguyễn Đình T sinh ngày 16/9/1961, số CCCD xxxxxxxxxxxx, quê quán Đan Phượng, Hà Nội và cháu Nguyễn Đình M sinh ngày 16/5/2017, giấy chứng sinh số 107, quyển số 05/2017, nơi sinh bệnh viện Quân Y 354 có quan hệ huyết thống: Cha – Con.

Hội đồng xét xử xét thấy, đã có đủ căn cứ để xác định anh Nguyễn Đình T là cha của cháu Nguyễn Đình M. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của anh T là đúng, được HĐXX chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Đình T không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 88; 89 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình T.

Xác định anh Nguyễn Đình T sinh ngày 16/9/1961, địa chỉ: Số nhà 298 đường N, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội là cha ruột của cháu Nguyễn Đình M sinh ngày 16/5/2017 (theo giấy chứng sinh số 107, quyển số 05/2017, nơi sinh bệnh viện Quân Y 354).

2. Án phí: Anh Nguyễn Đình T không phải nộp án phí.

3. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Đình T, chị Phạm Thị X có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của BLTTDS.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ