vanban.org

Bản án 05/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng ủy quyền

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 21/07/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng ủy quyền — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh giữa Công ty T và bà Trần Thị Q năm 2021"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 05/2021/DS-ST
Ngày: 21-7-2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

“V/v tranh chấp Hợp đồng bảo lãnh”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Đức

Bà Nguyễn Thị Phương Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Lê N Ng c Di p

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân t nh Hà T nh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hiền.

Ngày 21/7/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 25/2020/TLST-DS ngày 19/11/2020 về vi c “Tranh chấp Hợp đồng bảo lãnh”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐ-TA ngày 07/4/2021 và Thông báo về thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 02/2021/TB-TA ngày 08/6/2021, gi a:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Quốc tế T, địa chỉ: Khối 12, xã Phù Lỗ, huy n S, Thành phố Hà Nội. Người đại di n theo ủy quyền: Ông Lê Ng c H, sinh năm: 1977, bà Lương Thị H, sinh năm: 1980 - Luật sư Văn phòng Luật sư Đa Phúc, Đoàn Luật sư Hà Nội, địa chỉ: Phòng 1112, số 33 Mạc Thái Tổ, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Q, sinh năm: 1956, địa chỉ: Thôn H, xã K, huy n A, tỉnh Hà Tĩnh.

- Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1955, địa chỉ: Thôn H, xã K, huy n A, tỉnh Hà Tĩnh.

+ Chị Nguyễn Thị A, sinh năm: 1991, địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã K, huy n A, tỉnh Hà Tĩnh, hi n đang lao động tại Đài Loan.

NỘI DUNG V ÁN

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, vụ án có nội dung: Công ty cổ phần Quốc tế T, tên viết tắt: T C, địa chỉ trụ sở chính: Khối 12, xã P, huy n S, thành phố Hà Nội, Vi t Nam, người đại di n theo pháp luật: ông Ngô Quang H, chức danh: Tổng giám đốc, được Sở Kế hoạch và Đầu T thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghi p Công ty cổ phần - Mã số doanh nghi p: 0106885151, đăng ký lần đầu ngày 22/6/2015, đăng ký thay đổi lần thứ hai ngày 18/5/2017. Công ty được Bộ lao động thương binh và xã hội cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động số 826/TĐTBXH-GP, ngày 05/5/2016 với chức năng được hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm vi c ở nước ngoài.

Ngày 11/11/2019, Công ty Cổ phần Quốc tế T và chị Nguyễn Thị A, sinh ngày: 20/8/1991, hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã K, huy n A, tỉnh Hà Tĩnh ký kết hợp đồng đưa người lao động đi làm vi c có thời hạn tại Đài Loan số T11-46. Theo đó, căn cứ hợp đồng cung ứng lao động ký với Công ty HHCP nguồn nhân lực quốc tế Xảo Di u, Công ty T đưa chị Nguyễn Thị A đi làm vi c có thời hạn tại Đài Loan với công vi c sản xuất chế tạo trong thời hạn 36 tháng tính từ thời điểm người lao động nhập cảnh vào Đài Loan; doanh nghi p sử dụng lao động là công ty HHCP công nghi p đi n tử Công Đắc.

Nội dung bản hợp đồng đã xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, trong đó có quy định nghĩa vụ của người lao động (NLĐ) trong thời hạn hợp đồng nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng, vi phạm pháp luật thì sẽ phải bồi thường cho công ty T. Theo quy định, người xuất khẩu lao động phải có người bảo lãnh, vì vậy bà Trần Thị Q là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị A – người đại di n hợp pháp của chị Nguyễn Thị A đã làm các thủ tục bảo lãnh cho chị Anh đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Bà Trần Thị Q đã được Công ty T phổ biến rõ về quyền, nghĩa vụ, trách nhi m của NLĐ, người bảo lãnh cũng như các quy định về bồi thường khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc bỏ trốn tại nơi đang làm vi c tại Đài Loan.

Ngày 11/11/2019, Công ty T, chị Nguyễn Thị A và bà Trần Thị Q đã ký kết hợp đồng bảo lãnh. Trong đó, công ty T là bên nhận bảo lãnh, bà Trần Thị Q là bên bảo lãnh, chị Nguyễn Thị A là bên được bảo lãnh. Theo đó, phạm vi bảo lãnh mà người bảo lãnh cam kết bảo lãnh cho người được bảo lãnh như sau: “...Chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ những thiệt hại phát sinh; nộp phạt vi phạm khi bên C bỏ trốn vi phạm hợp đồng và cam kết đã ký cho bên A với tổng số tiền là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng Việt Nam). Bên B phải chịu trách nhiệm nộp đủ khoản tiền phạt vi phạm này cho bên A trong vòng 10 ngày kể từ ngày có thông báo của bên A…”.

Vi c ký kết hợp đồng gi a bà Trần Thị Q với các bên có xác nhận của chính quyền địa phương, hoàn toàn tự nguy n, không bị ai ép buộc, lừa dối, tuân thủ quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, được thể hi n tại hợp đồng bảo lãnh có nội dung “tôi đã đ c và hiểu rõ và hoàn toàn đồng ý với nội dung của bản hợp đồng bảo lãnh trên” là ch viết, ch ký của bà Trần Thị Q.

Ngày 18/11/2019, chị Nguyễn Thị A đã nhập cảnh vào Đài Loan và làm vi c cho Công ty Công Đắc với công vi c và chế độ như Hợp đồng đã ký kết.

Ngày 17/6/2020 và ngày 25/6/2020, Công ty T đã thông báo bằng văn bản với bà Trần Thị Q về vụ vi c chị Nguyễn Thị A đã bỏ trốn khỏi nơi làm vi c vào ngày 04/01/2020. Đến thời điểm hi n tại chị Nguyễn Thị A v n chưa trở lại công ty làm vi c.

Với nội dung trên, Công ty T khởi ki n lên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, yêu cầu bà Trần Thị Q bồi thường thi t hại theo cam kết đã ký với số tiền 120.000.000 đồng.

Bị đơn bà Trần Thị Q đã được Tòa án tri u tập làm vi c nhiều lần nhưng không có mặt. Quá trình Tòa án xác minh, làm vi c bà Trần Thị Q cho biết do công ty T sắp xếp, bố trí công vi c không đúng như trong hợp đồng lao động nên chị Nguyễn Thị A mới phải bỏ trốn khỏi nơi làm vi c. Lỗi của công ty nên bà không đồng ý thực hi n nghĩa vụ bảo lãnh.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt do dịch covid-19 không thể đến tham gia phiên tòa; bị đơn vắng mặt lần thứ 3, không có lý do, đã được tri u tập hợp l .

Đại di n VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về vi c tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, đơn khởi ki n của nguyên đơn và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 275, 280, 292, 335, 336, 339, 342, 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn, buộc bà Trần Thị Q phải thực hi n nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần Quốc tế T số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi tri u đồng) theo Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm vi c có thời hạn Đài Loan đã ký kết ngày 11/11/2019 gi a Công ty Cổ phần Quốc tế T, bà Trần Thị Q và chị Nguyễn Thị A.

Sau khi nghiên cứu các tài li u có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa,

NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X

[1]. Về tố tụng: Quan h pháp luật tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh theo quy định tại Thông T liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 18/5/2010 gi a TANDTC-BLDDTB&XH- VKSNDTC: “Hướng d n áp dụng một số quy định của pháp luật khi giải quyết quan h tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người đi lao động đi làm vi c ở nước ngoài” và quy định tại Điều 26, 37, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị Q đã nhận được giấy tri u tập hợp l của Tòa án nhưng liên tục vắng mặt không có lý do, Tòa án đã lập biên bản để có cơ sở giải quyết vụ án; nguyên đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị Q và nguyên đơn theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung: Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm vi c có thời hạn tại Đài Loan gi a Công ty T và bà Trần Thị Q có điểm chỉ, ch ký, ch viết của bên bảo lãnh, người được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và xác nhận của chính quyền địa phương. Trong Hợp đồng bảo lãnh, bà Trần Thị Q đã cam kết: “…Chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ những thiệt hại phát sinh; nộp phạt vi phạm khi bên C bỏ trốn vi phạm hợp đồng và cam kết đã ký cho bên A với tổng số tiền là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng Việt Nam). Bên B phải chịu trách nhiệm nộp đủ khoản tiền phạt vi phạm này cho bên A trong vòng 10 ngày kể từ ngày có thông báo của bên A…”. Như vậy, bà Trần Thị Q có nghĩa vụ thực hi n trách nhi m thay cho chị Nguyễn Thị A trong phạm vi cam kết bảo lãnh.

Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm vi c có thời hạn tại Đài Loan đã ký kết gi a các bên là giao dịch dân sự mang tính tự nguy n, tự thỏa thuận, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với pháp luật. Mục đích bà Trần Thị Q cam kết bồi thường đối với Công ty T nhằm bảo lãnh cho chị Nguyễn Thị A lao động tại Đài Loan theo Hợp đồng lao động đã ký gi a chị Anh và công ty. Chị Nguyễn Thị A đã tự ý bỏ vi c là vi phạm các điều khoản của hợp đồng đã ký, làm phát sinh nghĩa vụ dân sự đối với người bảo lãnh. Bà Trần Thị Q là người tự nguy n ký kết hợp đồng bảo lãnh. Vì vậy phải chịu trách nhi m bồi thường cho công ty T số tiền 120.000.000 đồng theo Hợp đồng bão lãnh đã ký ngày 11/11/2019.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị Q vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án thể hi n thái độ trốn tránh, chối bỏ trách nhi m thực hi n nghĩa vụ bảo lãnh. Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương trực tiếp tống đạt Giấy tri u tập cho bà Trần Thị Q nhưng bà thiếu tinh thần hợp tác. Tại Biên bản làm vi c, Biên bản lấy lời khai ngày 29/01/2021, bà Trần Thị Q cho rằng, Công ty T bố trí, sắp xếp công vi c cho chị Anh không đúng như trong Hợp đồng lao động nên chị Anh phải bỏ trốn ra ngoài. Tuy nhiên, bà không cung cấp được tài li u chứng cứ để chứng minh. Mặt khác, hành vi bỏ trốn khỏi nơi làm vi c của chị Anh là có thật nên đã phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh theo hợp đồng các bên đã ký kết. Do đó,Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để bảo v quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cũng là vi c tăng cường áp dụng chế tài để răn đe đối với nh ng người lao động vi phạm hợp đồng đặc bi t là lao động làm vi c ở nước ngoài nhằm hạn chế tình trạng lao động bỏ vi c, cư trú bất hợp pháp trên lãnh thổ quốc gia khác, vi phạm pháp luật Vi t Nam và nước sở tại.

Từ nh ng vấn đề trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận nội dung khởi ki n của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng 120.000.000 đồng.

Về án phí: Buộc bà Trần Thị Q phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH

1. Căn cứ Điều 26, 37, 39, 235, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 275, 280, 292, 335, 336, 339, 342, 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của Công ty Cổ phần Quốc tế T; buộc bà Trần Thị Q phải thực hi n nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần Quốc tế T số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi tri u đồng) theo Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm vi c có thời hạn Đài Loan đã ký kết ngày 11/11/2019 gi a Công ty Cổ phần Quốc tế T, bà Trần Thị Q và chị Nguyễn Thị A.

2. Kể từ ngày bản án có hi u lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguy n thi hành thì phải chịu lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

3. Về án phí: Bà Trần Thị Q phải nộp 6.000.000 đồng (sáu tri u đồng) án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần Quốc tế T số tiền 3.000.000 đồng (ba tri u đồng) tiền tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 000076 ngày 19/11/2020 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật).

TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM

Cỡ chữ