- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2021/DS-ST Ngày: 05-01-2021 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến.
Các Hội thẩm nhân nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hơn.
2. Bà Phan Thị Đẹp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 05 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 281/2020/TLST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2020/QĐST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Mại Cổ phần S (Tên viết tắt: C).
Địa chỉ: 266-268 đường N, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc.
Người đại diện cho S1: Ông Nguyễn Văn Gi – Giám đốc S1 - Chi nhánh Tiền Giang.
Địa chỉ: 06 đường Đ, phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
(Theo giấy ủy quyền số 3972/2019/GUQ-PL ngày 16/12/2019, Quyết định ủy quyền số 3977/2020/GUQ-PL ngày 28/12/2020).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Gi: Anh Nguyễn S2 – Chuyên viên Quản lý nợ Chi nhánh Tiền Giang (Có mặt).
Địa chỉ: 06 đường Đ, phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
(Theo giấy ủy quyền ngày 29/6/2020).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1966 (Vắng mặt);
Địa chỉ: 37/26 đường L, phường B1, thành phố M, Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 29 tháng 6 năm 2020 của S1 và quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn S2 là người đại diện theo ủy quyền của Giám đốc S1 - Chi nhánh Tiền Giang trình bày:
Ngày 23/11/2018, S1 với anh Nguyễn Thanh T ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cùng với Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1, loại thẻ hạng chuẩn, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn 2.6%/tháng, thời gian áp dụng từ ngày phát hành đến khi tất toán thẻ, lãi suất quá hạn được tính bằng 150% lãi suất trong hạn, kỳ trả nợ ngày 5 hàng tháng, số tiền thanh toán tối thiểu là 5% dư nợ cuối kỳ và hạn mức sử dụng cấp cho anh T với số tiền 20.000.000 đồng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng anh T đã thực hiện giao dịch đến ngày 22/3/2020 với số tiền 26.300.000 đồng, tiền lãi 7.255.135 đồng, tiền phí 1.649.913 đồng, đã thanh toán cho S1 14.953.057 đồng, nợ gốc 8.039.504 đồng, lãi và phí 6.913.553 đồng và ngưng thánh toán cho S1 là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó ngày 22/3/2020 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, tiền lãi quá hạn tính trên số dư nợ đã chuyển quy định tại Bản điều khoản, điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng vì anh T không thanh toán số tiền tối thiểu là 5% dư nợ cuối kỳ. Số tiền anh T còn phải thanh toán cho S1 tính đến ngày khởi kiện 29/6/2020 là 22.858.463 đồng, vốn 20.251.991 đồng, lãi quá hạn 2.606.472 đồng. Nay S1 yêu cầu anh T trả vốn và lãi của khoản vay trên đến ngày xét xử với số tiền là 27.860.783 đồng, dư nợ 20.251.991 đồng, lãi quá hạn 7.608.792 đồng khi án có hiệu lực. Sau ngày này, anh T chậm thanh toán còn phải trả thêm tiền lãi theo thỏa thuận của hợp đồng trên cho đến khi trả hết nợ.
* Đối với anh Nguyễn Thanh T từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng đương sự không gửi văn bản nêu ý kiến của mình và vắng mặt không rõ lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào yêu cầu của S1 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” với Nguyễn Thanh T thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Tại phiên tòa, anh nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đương sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của S1 yêu cầu anh T trả tiền nợ gốc và lãi của khoản cho vay thẻ tín dụng trên.
Qua lời trình bày của anh Nguyễn S2 là người đại diện của S1 tại phiên tòa. Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cùng với Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1 ngày 23/11/2018 tạo nên hợp đồng tín dụng có nội dung, bên được cấp sử dụng thẻ tín dụng là anh T nên có sở xác định S1 và anh T có giao kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng hình thức là vay tiền và anh T sử dụng thẻ hạng chuẩn, hạn mức sử dụng cấp cho anh T là 20,000,000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, hợp đồng sử dụng thẻ tín chấp không có tài sản bảo đảm. Theo tóm tắt sao kê ngày 29/6/2020, anh T đã thực hiện giao dịch đến ngày 22/3/2020 với số tiền 26.300.000 đồng, tiền lãi 7.255.135 đồng, tiền phí 1.649.913 đồng, đã thanh toán cho S1 14.953.057 đồng, dư nợ vốn 8.039.504 đồng, lãi và phí 6.913.553 đồng, dư nợ cuối kỳ 20.251.991 đồng. Việc ngưng thanh toán của anh T kể từ thời gian này đã vi phạm hợp đồng về thời gian trả gốc, lãi. Bởi anh T không thanh toán số tiền tối thiểu là 5% dư nợ cuối kỳ của hợp đồng dẫn đến toàn bộ dư nợ gốc của khoản vay này trở nên đến hạn. Do đó S1 chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ còn lại của hợp đồng trên sang nợ quá hạn và tiền lãi quá hạn tính trên dư nợ kể từ ngày 22/3/2020 với mức lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn quy định tại Điều 2, 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1. Với mức lãi suất cho vay, lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn đối với khoản cho vay trên là phù hợp với Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 dành cho khách hàng cá nhân và lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tố chức tín dụng được quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
Vì vậy S1 yêu cầu anh T thanh toán nợ gốc, lãi của hợp đồng với mức lãi suất trên tính đến ngày xét xử 05/01/2021 theo tóm tắt sao kê là 27.860.783 đồng, dư nợ 20.251.991 đồng, lãi quá hạn 7.608.792 đồng là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cho nên buộc anh T có nghĩa vụ trả cho S1 số tiền vốn và lãi là 27.860.783 đồng.
Về án phí: Yêu cầu của S1 được chấp nhận, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 571.461 đồng. Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm với mức thu 5% của số tiền 27.860.783 đồng nguyên đơn yêu cầu được chấp nhận nên phải nộp 1.393.039 đồng, làm tròn 1.393.000 đồng.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 463, 466, Điều 470 của Bộ luật Dân sự;
- Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
1. Buộc anh Nguyễn Thanh T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 27.860.783 (Hai mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi ngàn bảy trăm tám mươi ba) đồng khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2.Về án phí: Anh T phải chịu án phí sơ thẩm là 1.393.000 đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 571.461 (Năm trăm bảy mươi mốt ngàn bốn trăm sáu mươi mốt) đồng theo biên lai thu tiền số 02191 ngày 14 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Tiền Giang; - VKSND TP.Mỹ Tho, Tiền Giang; - Chi cục THADS TP.Mỹ Tho, Tiền Giang; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | (ĐÃ KÝ) Nguyễn Hoàng Yến |