vanban.org

Bản án 05/2020/LĐ-PT — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/04/2020 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/04/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty C; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông C.W.C, sửa án sơ thẩm số 05/2019/LĐST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng nhƣ sau:

1 Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông C.W.C đòi Công ty C trả tiền nợ lƣơng của 06 ngày làm việc. Buộc Công ty C trả cho ông C.W.C tiền lƣơng 06 ngày làm việc là (06 ngày x 18.400.000 đồng/tháng/26 ngày) = 4.246.154 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Ông C.W.C tranh chấp Công ty C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty C; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông C.W.C, sửa án sơ thẩm số 05/2019/LĐST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng nhƣ sau:
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Lao động; Điều 26 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 05/2020/LĐ-PT
Ngày: 22 - 04 - 2020
V/v tranh chấp lao động về
đơn phƣơng chấm dứt hợp
đồng lao động.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tấn.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đắc Cƣờng.

Ông Bùi Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Đạo Phú Quý - Thƣ ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lý Loan - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và 22 tháng 04 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số: 02/2020/TLPT-LĐ ngày 06 tháng 01 năm 2020 về việc “tranh chấp đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số: 05/2019/LĐST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng bị nguyên đơn và bị đơn kháng cáo.

Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2020/QĐ-PT ngày 02/3/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 04/2020/QĐ-PT ngày 17/3/2020, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Ông C.W.C, sinh năm 1977; tạm trú: Thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời đại diện hợp pháp của ông C.W.C là ông N.Đ.V, sinh năm 1989; trú tại: Thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng (theo giấy ủy quyền ngày 28/12/2018), có mặt.

2. Bị đơn: Công ty C; địa chỉ: Thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời đại diện hợp pháp của công ty là bà L.T.L, sinh năm 1976; trú tại: Thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng (theo giấy ủy quyền ngày 31/10/2019), có mặt.

Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông M.T.L, là Luật sƣ – Công ty B thuộc Đoàn Luật sƣ tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/5/2019, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông C.W.C và người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn là ông N.Đ.V thống nhất trình bày:

Ngày 19/8/2018 ông C.W.C bắt đầu làm việc tại Công ty C, công việc phải làm là quản lý tất cả các công việc liên quan đến xây dựng (chuyên gia xây dựng), theo hình thức lao động thử việc. Theo hợp đồng nguyên tắc áp dụng chung cho các chuyên gia ngƣời nƣớc ngoài do Công ty C quy định thì thời gian thử việc là 03 tháng từ ngày 19/8/2018 đến ngày 19/11/2018. Mức lƣơng thỏa thuận là 2.600USD, Công ty trả lƣơng bằng hình thức chuyển khoản từ Ngân hàng bên Đài Loan chuyển vào tài khoản của ông C.W.C. Tuy nhiên quá trình làm việc ông C.W.C nhận thấy công ty giao công việc không đúng thỏa thuận nên ngày 20/10/2018 ông C.W.C có đơn xin nghỉ việc vào ngày 19/11/2018. Nhƣng đến ngày 07/11/2018 Công ty C đã đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động là vi phạm. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty bồi thƣờng nhƣ sau:

- Tiền lƣơng 06 ngày Công ty còn nợ ông C.W.C với mức lƣơng 2.600USD (tƣơng đƣơng 60.411.000 đồng/tháng) là 12.000.000 đồng.

- Tiền bồi thƣờng thiệt hại do đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là 02 tháng tiền lƣơng: 02 tháng x 60.411.000 đồng/tháng = 120.822.000 đồng.

- Tiền những ngày ông C.W.C không đƣợc làm việc tạm tính từ 07/11/2018 đến ngày 19/11/2018 là 24.960.000 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện về tiền vé máy bay Công ty còn nợ ông C.W.C là 7.165.000 đồng, tiền lãi suất tạm tính là 9.898.110 đồng thì quá trình tố tụng cũng nhƣ tại phiên tòa nguyên đơn xác định không yêu cầu bị đơn phải bồi thƣờng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, đại diện nguyên đơn xác định mức lƣơng làm căn cứ bồi thƣờng là 2.600 USD, quy ra thành tiền đồng Việt Nam là 2.600 USD/tháng x 23.000 đồng/USD = 59.800.000 đồng/tháng.

Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn Công ty C và người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn thống nhất trình bày:

Thống nhất về thời gian làm việc của ông C.W.C tại Công ty C, công việc phải làm là chuyên gia xây dựng, theo hình thức thử việc, lƣơng do trả bằng hình thức chuyển khoản, mức lƣơng 800USD/tháng. Quá trình làm việc, ngày 29/10/2018 ông C.W.C nộp đơn xin nghỉ việc vào ngày 19/11/2018, nhƣng sau đó đến ngày 07/11/2018 ông C.W.C có nguyện vọng xin nghỉ trƣớc để về nƣớc nên giữa ông Tổng giám đốc Công ty và ông C.W.C có thỏa thuận miệng thống nhất cho ông C.W.C đƣợc nghỉ trƣớc thời hạn là ngày 07/11/2018. Cùng ngày 07/11/2018 Công ty C ban hành quyết định về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông C.W.C. Nhƣng do ông C.W.C không còn làm việc ở công ty nên công ty không thể giao quyết định nghỉ việc cho ông C.W.C.

Do đó, bị đơn không đồng ý yêu cầu bồi thƣờng của ông C.W.C vì ông C.W.C tự nguyện xin nghỉ việc trƣớc thời gian xin thôi việc nên Công ty không có lỗi.

Tại Bản án lao động sơ thẩm số: 05/2019/LĐST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đã quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông C.W.C.

Buộc Công ty C có trách nhiệm bồi thƣờng cho ông C.W.C tổng số tiền là 50.246.154 đồng (Năm mƣơi triệu hai trăm bốn mƣơi sáu nghìn một trăm năm mƣơi bốn đồng). Cụ thể:

- Buộc Công ty C trả cho ông C.W.C tiền lƣơng 06 ngày làm việc là 06 ngày x 18.400.000 đồng/tháng = 4.246.154 đồng.

- Buộc Công ty C bồi thƣờng cho ông C.W.C 02 tháng tiền lƣơng do vi phạm: 02 tháng x 18.400.000 đồng/tháng = 36.800.000 đồng.

- Buộc Công ty C bồi thƣờng cho ông C.W.C tiền những ngày ông C.W.C không đƣợc làm việc tạm tính từ 07/11/2018 đến ngày 19/11/2018 là 13 ngày = 9.200.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Che Wei Chung về việc rút yêu cầu khởi kiện buộc Công ty C trả tiền vé máy bay là 7.165.000 đồng và tiền lãi suất tạm tính là 9.898.110 đồng.

3. Về án phí: Công ty C phải chịu 1.507.385 đồng (Một triệu năm trăm lẻ bảy nghìn ba trăm tám mƣơi lăm đồng) án phí lao động sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định cho các đƣơng sự.

Ngày 30/10/2019, Công ty C có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hƣớng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Che Wei Chung.

Ngày 31/10/2019, Nguyên đơn ông C.W.C kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm sửa một phần án sơ thẩm, giải quyết bồi thƣờng theo mức lƣơng thực tế đã nhận 2.600 USD/tháng, không đồng ý mức lƣơng 800 USD/tháng nhƣ Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có ý kiến: Về tố tụng: Tƣ cách khởi kiện của nguyên đơn không rõ ràng, chữ ký của nguyên đơn không có xác nhận của văn phòng công chứng hoặc phòng tƣ pháp. Ngƣời phiên dịch là bà N.T.O không có lời khai và Tòa án sơ thẩm không đƣa bà N.T.O tham gia tố tụng. Về nội dung: Hợp đồng lao động thử việc bằng tiếng Trung không có mời ngƣời phiên dịch làm việc, nguyên đơn tự ý chấm dứt hợp động lao động thử việc ở Công ty từ ngày 07/11/2018 đệ đơn trƣớc đó từ ngày 20/10/2018 với lý do là không thích làm việc với ngƣời Trung Quốc. Trong thời gian thử việc Công ty có quyền chấm dứt Hợp đồng lao đồng thử việc theo điều 29 Bộ luật Lao động, chữ ký trong hợp đồng lao động thử việc và chữ ký trong đơn khởi kiện là khác nhau. Do vậy, yêu cầu Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã T.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng: Những ngƣời tiến hành tố tụng và những ngƣời tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Về thực tế ông C.W.C và Công ty C đã phát sinh quan hệ lao động. Công ty đã có hành vi đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động với ông C.W.C. Bản án sơ thẩm buộc Công ty C phải bồi thƣờng cho ông C.W.C là có căn cứ. Nguyên đơn và bị đơn kháng cáo nhƣng không cung cấp đƣợc chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến tranh tụng của đƣơng sự, luật sƣ và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng về việc giải quyết vụ án;

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn nộp trong hạn luật định là phù hợp.

Xét kháng cáo của bị đơn thấy rằng:

Hợp đồng lao động thử việc giữa ông C.W.C với Công ty C ký kết ở Việt nam nhƣng bằng tiếng Trung, không có bản hợp đồng nào bằng tiếng Việt Nam. Hợp đồng không có ghi ngày, tháng, năm; không có thỏa thuận về mức tiền lƣơng, Bảo hiểm lao động, y tế … thì thỏa thuận bằng tiền Đài tệ (tiền tệ Đài loan). Trong hợp đồng cũng không có bất cứ giấy tờ, bằng cấp, giấy xác nhận nào của cơ quan quản lý nhà nƣớc Việt Nam. Bị đơn là Công ty C xác nhận có giao kết hợp đồng lao động nguyên tắc bằng tiếng Trung, sử dụng cho tất cả ngƣời lao động nƣớc ngoài thời hạn 03 tháng (từ ngày 19/8/2018 đến ngày 19/11/2018) với Ông C.W.C. Do vậy, hợp đồng lao động thử việc ký kết giữa ông C.W.C với Công ty C vi phạm về hình thức lẫn nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 23; khoản 1 Điều 26, Điều 27 Bộ luật Lao động. Do đó, hợp đồng lao động thử việc ký kết giữa ông C.W.C với Công ty C là hợp đồng vô hiệu.

Ngày 20/10/2018, trong thời gian thỏa thuận thử việc, ông C.W.C tự nguyện nộp đơn xin nghỉ việc với lý do là không muốn làm chung với ngƣời Trung Quốc và thời gian xin nghỉ từ ngày 19/11/2018. Ngày 07/11/2018, Công ty C quyết định cho ông C.W.C nghỉ việc theo nguyện vọng. Do ông C.W.C tự nguyện viết nộp đơn xin nghỉ việc trong thời gian thử việc nên việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty C bồi thƣờng theo đơn phƣơng chấm dứt Hợp đồng lao động là chƣa phù hợp.

Ông C.W.C là ngƣời Đài Loan (Trung Quốc) nhập cảnh Việt Nam để lao động có thời hạn từ ngày 16/8/2018 đến ngày 16/11/2018 do Công ty C bảo lãnh (Công văn cung cấp thông tin số 2953/QLXNC- P4 ngày 09/10/2019 của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an) nhƣng không có giấy phép lao động tại Việt Nam là vi phạm pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông C.W.C là công dân nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo khoản 5, Điều 172 Bộ luật Lao động và điểm e khoản 2 Điều 7, khoản 1 Điều 8 Nghị định số 11/2016/NĐ- CP ngày 03/2/2016 của Chính phủ là không phù hợp. Bởi lẽ, điểm e khoản 2 Điều 7 Nghị định số 11/2016/NĐ- CP ngày 03/2/2016 thì ngƣời lao động nƣớc ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động phải là chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dƣới 30 ngày còn khoản 1 Điều 8 Nghị định số 11/2016/NĐ- CP thì xác định ngƣời lao động nƣớc ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động là phải có xác nhận của Sở Lao động - Thƣơng binh và Xã hội. Thực tế, quan hệ lao động giữa ông C.W.C với Công ty C là hợp đồng lao động thử việc. Quá trình thử việc đến khi kết thúc công việc, đại diện Công ty thừa nhận còn nợ ông C.W.C 06 ngày tiền lƣơng. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Công ty cho rằng đã trả tiền mặt cho ông Chen nhƣng không xuất trình đƣợc chứng cứ chứng minh. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo của bị đơn là có căn cứ một phần.

Xét kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng:

Nhƣ nhận định ở phần trên về hợp đồng lao động thử việc và việc vi phạm pháp luật lao động Việt Nam của ông C.W.C và Công ty C. Đại diện nguyên đơn kháng cáo về tiền lƣơng thực tế của ông C.W.C là 2.600 USD/tháng nhƣng cũng không xuất trình đƣợc chứng cứ chứng minh ngoài căn cứ mà bị đơn cung cấp là bảng lƣơng của ông Chen là 800USD/tháng nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Xét trình bày của luật sƣ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn thấy rằng: Nguyên đơn ông C.W.C ủy quyền cho ngƣời đại diện hợp pháp là ông N.Đ.V, có ngƣời phiên dịch là N.T.O bằng văn bản đƣợc Văn phòng công chứng thành phố mới thuộc thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng xác nhận ngày 28/12/2018. Ngày 03/5/2019, nguyên đơn làm đơn khởi kiện viết rõ họ và tên và xác nhận của phiên dịch N.T.O cùng văn bản giải trình của C.W.C ngày 15/5/2019. Đơn khởi kiện và văn bản giải trình có chữ viết, ghi họ và tên của nguyên đơn và ngƣời phiên dịch đều nhƣ nhau và lập sau khi đƣợc công chứng chứng thực. Nhƣ vậy, Luật sƣ cho rằng phải đƣa ngƣời phiên dịch N.T.O tham gia tố tụng là không cần thiết và yêu cầu hủy án sơ thẩm của luật sƣ là không có căn cứ.

Về ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa thấy rằng: Do hợp đồng lao động thử việc ký kết giữa ông C.W.C với Công ty C nhƣ nhận định trên là vô hiệu nên đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên bản án sơ thẩm là chƣa phù hợp.

Về án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn, bị đơn không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 23; khoản 1 Điều 26, Điều 27 , Điều 29, khoản 1 Điều 50, khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 2 Điều 52 Bộ luật Lao động; Nghị định số 11/2016/NĐ- CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty C; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông C.W.C, sửa án sơ thẩm số 05/2019/LĐST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng nhƣ sau:

1.1 Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông C.W.C đòi Công ty C trả tiền nợ lƣơng của 06 ngày làm việc.

Buộc Công ty C trả cho ông C.W.C tiền lƣơng 06 ngày làm việc là (06 ngày x 18.400.000 đồng/tháng/26 ngày) = 4.246.154 đồng.

1.2 Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C.W.C về việc đòi Công ty C bồi thƣờng cho ông C.W.C 02 tháng tiền lƣơng do vi phạm: 02 tháng x 18.400.000 đồng/tháng = 36.800.000 đồng và bồi thƣờng cho ông C.W.C tiền lƣơng những ngày không đƣợc làm việc từ 07/11/2018 đến ngày 19/11/2018 là 13 ngày = 9.200.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

1.3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông C.W.C về việc rút yêu cầu khởi kiện buộc Công ty C trả tiền vé máy bay là 7.165.000 đồng và tiền lãi suất tạm tính là 9.898.110 đồng.

1.4. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

2. Án phí lao động phúc thẩm: Ông C.W.C không phải chịu. Công ty C không phải chịu, hoàn trả cho Công ty C 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 36352 ngày 05/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ